CHÍNH PHỦ
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: ……./2018/NĐ-CP

Hà Nội, ngày      tháng     năm 2018

(DỰ THẢO 2)

 

 

NGHỊ ĐỊNH

VỀ CHẾ ĐỘ BÁO CÁO CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015 ;

Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Luật Tiếp cận thông tin ngày 06 tháng 4 năm 2016;

Theo đề nghị của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ;

Chính phủ ban hành Nghị định về chế độ báo cáo của cơ quan hành chính nhà nước,

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này quy định về:

a) Nguyên tắc, thẩm quyền ban hành chế độ báo cáo của cơ quan hành chính nhà nước để điều chỉnh việc thực hiện công tác báo cáo giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau và giữa cơ quan hành chính nhà nước với tổ chức, cá nhân có liên quan;

b) Các yêu cầu cụ thể đối với việc quy định các nội dung của chế độ báo cáo;

c) Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thực hiện chế độ báo cáo và xây dựng Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia;

d) Trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức và tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện chế độ báo cáo.

2. Nghị định này không điều chỉnh:

a) Chế độ báo cáo thống kê theo quy định của pháp luật về thống kê;

b) Chế độ báo cáo mật;

c) Chế độ báo cáo trong nội bộ cơ quan hành chính nhà nước.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức có liên quan đến việc ban hành và thực hiện các chế độ báo cáo.

2. Tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thực hiện chế độ báo cáo do cơ quan hành chính nhà nước ban hành.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Chế độ báo cáo trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước là những yêu cầu cụ thể về việc thực hiện báo cáo do cơ quan, người có thẩm quyền trong hệ thống hành chính nhà nước ban hành và bắt buộc các cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức và cá nhân có liên quan phải tuân thủ.

2 Báo cáomột loại văn bản hành chính (gồm văn bản giấy và văn bản điện tử), là kết quả thực hiện chế độ báo cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân để thể hiện tình hình, kết quả thực hiện công việc nhằm giúp cho cơ quan, người có thẩm quyền có thông tin phục vụ việc phân tích, đánh giá tình hình thực tế để ban hành các quyết định quản lý phù hợp .

3. Thời gian chốt số liệu báo cáo là khoảng thời gian tính từ thời điểm bắt đầu lấy số liệu của kỳ báo cáo đến thời điểm kết thúc việc lấy số liệu để thực hiện việc xây dựng báo cáo. Thời gian chốt số liệu báo cáo có thể không trùng khớp với thời gian của kỳ báo cáo.

4. Tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thực hiện chế độ báo cáo do cơ quan hành chính nhà nước ban hành là các đối tượng phải thực hiện chế độ báo cáo theo quy định mà không phải cơ quan hành chính nhà nước, như: người dân, doanh nghiệp, hiệp hội....

5. Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia là hệ thống thông tin tích hợp, chia sẻ dữ liệu báo cáo trong các cơ quan hành chính nhà nước nhằm tổng hợp thông tin vào kho dữ liệu chung, phân tích dữ liệu, hỗ trợ ra quyết định phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cơ quan hành chính nhà nước các cấp và hỗ trợ đánh giá hiệu quả thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao.

6. Phân hệ phần mềm báo cáo của các bộ, ngành, địa phương là phần mềm báo cáo hoặc là phân hệ của các hệ thống thông tin chuyên ngành hoặc các cơ sở dữ liệu quốc gia nhằm tổng hợp thông tin, biểu mẫu, số liệu báo cáo theo chế độ báo cáo của các bộ, ngành, địa phương và tích hợp, chia sẻ dữ liệu với Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia.

Điều 4. Các loại chế độ báo cáo

1. Chế độ báo cáo đột xuất là chế độ báo cáo được ban hành để đáp ứng yêu cầu thông tin về vấn đề phát sinh bất thường. Chế độ báo cáo này không được quy định trước và thường chỉ thực hiện một lần.

2. Chế độ báo cáo chuyên đề là chế độ báo cáo được ban hành để đáp ứng yêu cầu thông tin có tính chuyên sâu về một chủ đề nào đó, thường được quy định trước và có thể phải thực hiện một hoặc nhiều lần trong một thời gian nhất định.

3. Chế độ báo cáo định kỳ là chế độ báo cáo được ban hành để đáp ứng yêu cầu thông tin tổng hợp của các cơ quan hành chính nhà nước, được quy định trước và thực hiện lặp lại nhiều lần theo một chu kỳ xác định trong thời gian kéo dài.

Chương II

BAN HÀNH CHẾ ĐỘ BÁO CÁO

Mục 1. NGUYÊN TẮC, THẨM QUYỀN BAN HÀNH VÀ NỘI DUNG CHẾ ĐỘ BÁO CÁO

Điều 5. Nguyên tắc chung về việc ban hành chế độ báo cáo của cơ quan hành chính nhà nước

1. Đảm bảo cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, đầy đủ phục vụ hiệu quả cho hoạt động quản lý, chỉ đạo, điều hành của cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền; đồng thời, phục vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện chế độ báo cáo đối với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Hội đồng nhân dân cùng cấp.

2. Nội dung chế độ báo cáo phù hợp với quy định tại các văn bản do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan, người có thẩm quyền thuộc hệ thống hành chính nhà nước ban hành

3. Chỉ ban hành chế độ báo cáo khi cần thiết. Chế độ báo cáo cần phù hợp về thẩm quyền ban hành và đối tượng yêu cầu báo cáo, đảm bảo rõ ràng, thống nhất, đồng bộ, không trùng lắp với chế độ báo cáo khác.

4. Tiết kiệm thời gian, chi phí, nhân lực trong thực hiện chế độ báo cáo. Giảm tối đa yêu cầu về tần suất báo cáo.

5. Ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện chế độ báo cáo.

6. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong thực hiện chế độ báo cáo và công tác phối hợp, chia sẻ thông tin báo cáo

Điều 6. Thẩm quyền ban hành chế độ báo cáo của các cơ quan hành chính nhà nước

1. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành chế độ báo cáo định kỳ, chuyên đề, đột xuất yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện trong phạm vi cả nước.

2. Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ ban hành chế độ báo cáo định kỳ, chuyên đề, đột xuất thuộc phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện trong phạm vi cả nước.

3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành chế độ báo cáo định kỳ, chuyên đề, đột xuất yêu cầu các cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới và tổ chức, cá nhân có liên quan trong phạm vi địa bàn quản lý của tỉnh, thành phố thực hiện.

4. Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành chế độ báo cáo chuyên đề, đột xuất yêu cầu các cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới và tổ chức, cá nhân có liên quan trong phạm vi địa bàn quản lý của huyện thực hiện.

5. Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành chế độ báo cáo đột xuất yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan trong phạm vi địa bàn quản lý của xã thực hiện.

6. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp ban hành chế độ báo cáo đột xuất yêu cầu các cơ quan hành chính nhà nước trực thuộc và tổ chức, cá nhân có liên quan trong phạm vi địa bàn quản lý thực hiện.

Điều 7. Nội dung chế độ báo cáo

Nội dung chế độ báo cáo bao gồm các thành phần sau:

1. Tên báo cáo;

2. Nội dung yêu cầu báo cáo;

3. Đối tượng thực hiện báo cáo;

4. Cơ quan nhận báo cáo;

5. Phương thức gửi, nhận báo cáo;

6. Thời hạn gửi báo cáo;

7. Tần suất thực hiện báo cáo;

8. Thời gian chốt số liệu báo cáo;

9. Mẫu đề cương;

10. Biểu mẫu số liệu báo cáo;

11. Hướng dẫn quy trình thực hiện báo cáo.

Mục 2. YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIỆC BAN HÀNH CHẾ ĐỘ BÁO CÁO

Điều 8. Yêu cầu chung về việc ban hành chế độ báo cáo

1. Tên báo cáo

Tên báo cáo ban hành phải đảm bảo sự rõ ràng, thống nhất và thể hiện được bao quát nội dung, phạm vi yêu cầu báo cáo.

2. Nội dung báo cáo

Nội dung báo cáo phải bảo đảm sự cần thiết nhằm phục vụ mục tiêu quản lý, chỉ đạo, điều hành của cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền.

Tùy từng trường hợp cụ thể, nội dung báo cáo có thể chỉ có phần lời văn hoặc bao gồm cả phần lời văn và phần số liệu.

3. Đối tượng thực hiện báo cáo, cơ quan nhận báo cáo

a) Chế độ báo cáo phải xác định rõ đối tượng thực hiện báo cáo (bao gồm cá nhân, tổ chức, cơ quan hành chính nhà nước khác) và xác định cụ thể tên cơ quan nhận báo cáo.

b) Việc quy định đối tượng thực hiện báo cáo phải bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của đối tượng thực hiện báo cáo.

4. Phương thức gửi, nhận báo cáo

Báo cáo có thể được thể hiện dưới hình thức văn bản giấy hoặc văn bản điện tử. Tùy theo điều kiện thực tế và yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, báo cáo được gửi đến cơ quan nhận báo cáo bằng một trong các phương thức sau:

a) Gửi trực tiếp;

b) Gửi qua dịch vụ bưu chính;

c) Gửi qua Fax;

d) Gửi qua hệ thống thư điện tử;

đ) Gửi qua hệ thống phần mềm thông tin báo cáo chuyên dụng.

e) Các phương thức khác theo quy định của pháp luật.

5. Thời gian chốt số liệu báo cáo và thời hạn gửi báo cáo

a) Thời gian chốt số liệu báo cáo được xác định dựa trên nhu cầu thông tin phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành và đặc thù của ngành, lĩnh vực. Thời gian chốt số liệu báo cáo phải thống nhất với thời gian chốt số liệu của các chế độ báo cáo khác trong cùng ngành, lĩnh vực để tạo điều kiện thuận lợi cho đối tượng thực hiện báo cáo.

b) Thời hạn gửi báo cáo được xác định căn cứ vào đối tượng thực hiện báo cáo, nội dung báo cáo và thời điểm kết thúc việc lấy số liệu báo cáo, nhưng phải đảm bảo thời gian không ít hơn 1 ngày làm việc tính từ thời điểm kết thúc việc lấy số liệu báo cáo đến thời hạn gửi báo cáo hoặc ước tính thời gian từ khi nhận được báo cáo để tổng hợp đến thời gian hoàn thành báo cáo và gửi đi.

Thời hạn gửi báo cáo định kỳ đối với trường hợp báo cáo phức tạp, có nhiều đối tượng thực hiện và phải tổng hợp qua nhiều cơ quan, nhiều cấp khác nhau thì quy định rõ thời hạn đối với từng đối tượng, từng cấp báo cáo đó.

c) Đối với báo cáo đột xuất, thời gian chốt số liệu và thời hạn gửi báo cáo thực hiện theo yêu cầu của cơ quan ban hành chế độ báo cáo để đáp ứng tình hình thực tế.

6. Tần suất thực hiện báo cáo

a) Quy định về tần suất thực hiện báo cáo phải hợp lý, phù hợp với tính chất, mục đích và yêu cầu quản lý, chỉ đạo, điều hành.

b) Thực hiện lồng ghép các nội dung báo cáo, bảo đảm chỉ yêu cầu báo cáo một lần trong một kỳ báo cáo đối với các nội dung thuộc cùng ngành, lĩnh vực.

7. Mẫu đề cương

a) Đối với phần lời văn trong báo cáo, chế độ báo cáo phải quy định mẫu đề cương để hướng dẫn thực hiện. Mẫu đề cương báo cáo nêu rõ kết cấu các thông tin chủ yếu về: tình hình thực hiện; kết quả đạt được; tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của tồn tại, hạn chế; phương hướng nhiệm vụ; đề xuất, kiến nghị.

b) Nếu chế độ báo cáo áp dụng cho nhiều loại đối tượng thực hiện với nội dung báo cáo khác nhau thì cơ quan ban hành chế độ báo cáo phải có hướng dẫn cụ thể hoặc thiết kế mẫu đề cương phù hợp với từng đối tượng báo cáo.

8. Biểu mẫu số liệu báo cáo

a) Trường hợp báo cáo yêu cầu phải có phần số liệu thì cơ quan ban hành chế độ báo cáo phải có hướng dẫn về biểu mẫu số liệu để đảm bảo thực hiện thống nhất, thuận tiện cho công tác tổng hợp, phân tích.

b) Nếu chế độ báo cáo áp dụng cho nhiều loại đối tượng thực hiện với các yêu cầu về số liệu khác nhau thì cơ quan ban hành chế độ báo cáo phải có hướng dẫn cụ thể hoặc thiết kế biểu mẫu số liệu báo cáo phù hợp với từng đối tượng báo cáo.

9. Hướng dẫn quy trình thực hiện báo cáo

Đối với các chế độ báo cáo phức tạp, có nhiều đối tượng thực hiện và phải tổng hợp qua nhiều cơ quan trung gian khác nhau thì cơ quan ban hành chế độ báo cáo phải hướng dẫn quy trình thực hiện, trong đó cần nêu rõ thời gian chốt số liệu báo cáo thống nhất chung cho các đối tượng; mẫu đề cương, biểu mẫu số liệu và thời gian gửi số liệu phù hợp với từng đối tượng thực hiện.

Điều 9. Yêu cầu đối với việc ban hành chế độ báo cáo đột xuất

1.Chế độ báo cáo đột xuất được ban hành bằng văn bản hành chính thông thường.

2. Chế độ báo cáo đột xuất được ban hành tối thiểu cần đáp ứng yêu cầu nêu tại các khoản 1,2,3,4,56 Điều 7 Nghị định này.

Điều 10. Yêu cầu đối với việc ban hành chế độ báo cáo chuyên đề

1. Chế độ báo cáo chuyên đề được ban hành bằng văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản hành chính.

2. Chế độ báo cáo chuyên đề được ban hành tối thiểu cần đáp ứng yêu cầu nêu tại các khoản 1,2,3,4,5,69 Điều 7 Nghị định này.

Điều 11. Yêu cầu đối với việc ban hành chế độ báo cáo định kỳ

1. Chế độ báo cáo định kỳ của các cơ quan hành chính nhà nước phải được quy định tại văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

2. Chế độ báo cáo định kỳ được ban hành tối thiểu cần đáp ứng yêu cầu nêu tại các khoản 1,2,3,4,5,6,7,89 Điều 7 và Điều 12 Nghị định này, trừ trường hợp có quy định khác tại các văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cơ quan, người có thẩm quyền thuộc hệ thống hành chính nhà nước.

Điều 12. Thời gian chốt số liệu báo cáo trong chế độ báo cáo định kỳ

Phương án 1: Thời gian chốt số liệu thực trùng khớp kỳ báo cáo

1. Báo cáo định kỳ hằng tháng: Tính từ ngày 01 đầu tháng đến ngày cuối cùng của tháng.

2. Báo cáo định kỳ hằng quý: Tính từ ngày 01 đầu quý đến ngày cuối cùng của tháng cuối quý.

3. Báo cáo định kỳ 6 tháng: Thời gian chốt số liệu 6 tháng đầu năm được tính từ ngày 01/1 đến ngày 30/6. Thời gian chốt số liệu 6 tháng cuối năm được tính từ ngày 01/7 đến ngày 31/12.

4. Báo cáo định kỳ hằng năm: Tính từ ngày 01/1 đến ngày 31/12.

5. Đối với các báo cáo định kỳ khác, thời gian chốt số liệu do cơ quan ban hành chế độ báo cáo quy định, nhưng phải đáp ứng các quy định tại Điều 5, 6,7,8,11 Nghị định này.

Phương án 2. Chốt số liệu thực không trùng khớp với kỳ báo cáo

1. Báo cáo định kỳ hằng tháng: Tính từ ngày 11 tháng trước đến ngày 10 của tháng thuộc kỳ báo cáo.

2. Báo cáo định kỳ hằng quý: Tính từ ngày 11 của tháng trước kỳ báo cáo đến ngày 10 của tháng cuối quý thuộc kỳ báo cáo.

3. Báo cáo định kỳ 6 tháng: Thời gian chốt số liệu 6 tháng đầu năm được tính từ ngày 11/12 năm trước kỳ báo cáo đến ngày 11/6 của kỳ báo cáo. Thời gian chốt số liệu 6 tháng cuối năm được tính từ ngày 11/6 đến ngày 10/12 của kỳ báo cáo.

4. Báo cáo định kỳ hằng năm: Tính từ ngày 11/12 năm trước kỳ báo cáo đến ngày 10/12 của kỳ báo cáo.

5. Đối với các báo cáo định kỳ khác, thời gian chốt số liệu do cơ quan ban hành chế độ báo cáo quy định, nhưng phải đáp ứng các quy định tại các điều 5,6,7,811 Nghị định này.

Chương III

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ BÁO CÁO VÀ HỆ THỐNG THÔNG TIN BÁO CÁO QUỐC GIA

Điều 13. Ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện chế độ báo cáo

1. Các cơ quan hành chính nhà nước tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thực hiện chế độ báo cáo, xây dựng Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia và các phân hệ phần mềm báo cáo để tiến tới thực hiện báo cáo điện tử, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổng hợp, chia sẻ thông tin báo cáo và tiết kiệm về thời gian, chi phí cho các đối tượng thực hiện báo cáo.

2. Giá trị pháp lý của báo cáo điện tử và việc sử dụng chữ ký điện tử thực hiện theo quy định tại Điều 35 Điều 40 Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước.

3. Việc xây dựng các biểu mẫu điện tử thực hiện theo Điều 19 Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước.

Điều 14. Nguyên tắc xây dựng Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia

1. Bảo đảm tính thống nhất, hiệu quả, đồng bộ, tránh chồng chéo, lãng phí trong đầu tư xây dựng hệ thống thông tin báo cáo kết nối, liên thông từ Trung ương đến địa phương.

2. Bảo đảm tuân thủ Khung Kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam; quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cấu trúc mã định danh và định dạng dữ liệu gói tin phục vụ kết nối Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về cấu trúc thông điệp dữ liệu trao đổi với các phân hệ phần mềm báo cáo của các bộ, ngành, địa phương.

3. Bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ thông tin giữa các hệ thống thông tin của các cơ quan nhà nước với nhau; khả năng tiếp nhận, kết nối, chia sẻ thông tin giữa cơ quan có thẩm quyền thực hiện chế độ báo cáo.

4. Tuân thủ quy định của pháp luật về đầu tư công nghệ thông tin, văn thư, lưu trữ, an ninh, an toàn thông tin và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Điều 15. Nguyên tắc cập nhật, khai thác dữ liệu từ Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia

1. Việc cập nhật dữ liệu báo cáo phải bảo đảm đầy đủ, chính xác và kịp thời, thống nhất từ trung ương đến địa phương.

2. Việc khai thác dữ liệu báo cáo của các bộ, ngành, địa phương trên cơ sở phân định quyền hạn, trách nhiệm cụ thể, đồng thời tuân thủ Luật tiếp cận thông tin.

3. Bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và lưu trữ lâu dài, đúng mục đích, tạo thuận lợi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có yêu cầu cung cấp thông tin từ Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia.

4. Bảo đảm quyền của các tổ chức, cá nhân được tiếp cận, khai thác, sử dụng thông tin trong Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia phải phù hợp với quy định của pháp luật.

Điều 16. Yêu cầu chức năng cơ bản của Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia

a) Là giải pháp nền tảng có thể tùy biến để các bộ, ngành, địa phương có thể ứng dụng, sử dụng để xây dựng, phát triển phân hệ phần mềm báo cáo của bộ, ngành, địa phương.

b) Cho phép tổ chức, cá nhân đăng ký tài khoản sử dụng; cung cấp các cơ chế xác thực người dùng để thực hiện các chế độ báo cáo tại phân hệ phần mềm báo cáo của các bộ, ngành, địa phương.

c) Cung cấp quy trình động (ISO-điện tử), dễ dàng tùy biến, chuẩn hóa, xây dựng quy trình về báo cáo định kỳ, báo cáo đột xuất giữa các cơ quan hành chính nhà nước.

d) Cung cấp các giải pháp tích hợp, chia sẻ dữ liệu đối với các hệ thống quản lý văn bản, hệ thống quản lý, theo dõi nhiệm vụ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao, các hệ thống thông tin chuyên ngành của các bộ, ngành, địa phương, các cơ sở dữ liệu quốc gia và hệ thống thông tin thống kê quốc gia.

đ) Tạo lập cơ sở dữ liệu về toàn bộ chỉ tiêu, biểu mẫu số liệu báo cáo, văn bản quy định chế độ báo cáo theo ngành, lĩnh vực của các cơ quan hành chính nhà nước, gồm: các báo cáo định kỳ, báo cáo chuyên đề, báo cáo đột xuất thuộc các lĩnh vực quản lý của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước.

e) Cho phép người dùng có thể tự định nghĩa biểu mẫu báo cáo để tổng hợp dữ liệu từ các hệ thống thông tin, phần mềm báo cáo hoặc phần mềm có chức năng kết xuất báo cáo tổng hợp của các bộ, ngành, địa phương.

g) Cho phép tự động tạo lập báo cáo theo biểu mẫu số liệu được tải lên hệ thống; cung cấp các bảng số liệu trực quan đa phương tiện (Data Dashboard)  hỗ trợ quản lý, theo dõi tình hình biến động số liệu phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

h) Cho phép thiết kế bảng theo dõi tình hình thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao kết nối với hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu theo dõi của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các hệ thống thông tin của các bộ, ngành, địa phương phục vụ đánh giá, đo lường hiệu quả thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao; cung cấp công cụ trực quan phục vụ sự chỉ đạo, điều hành và hỗ trợ ra các quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

i) Tích hợp chứng thư số, chữ ký số vào các biểu mẫu báo cáo phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nhằm xác thực tính chính xác của dữ liệu.

k) Thiết lập các hệ thống bảo mật, mã hóa dữ liệu cho Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia nhằm bảo đảm an toàn, an ninh của hệ thống cũng như dữ liệu biểu mẫu báo cáo.

l) Tổng hợp, thống kê việc tiếp nhận báo cáo theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

m) Các yêu cầu khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Điều 17. Phân hệ phần mềm báo cáo của các bộ, ngành, địa phương

1. Phần mềm được xây dựng trên nền tảng của các hệ thống thông tin tại các bộ, ngành, địa phương hoặc trên nền tảng của Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia.

2. Cho phép trích xuất các báo cáo tổng hợp từ hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chuyên ngành của bộ, ngành, địa phương bảo đảm biểu mẫu thống nhất với biểu mẫu được Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia cung cấp.

3. Tích hợp với hệ thống quản lý văn bản của cơ quan, tổ chức, thực hiện gửi báo cáo tổng hợp đến Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia.

Điều 18. Hạ tầng kỹ thuật, công nghệ

1. Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia được xây dựng, cài đặt tại Trung tâm dữ liệu của Văn phòng Chính phủ và kết nối với các Phân hệ phần mềm báo cáo tại các Bộ, ngành, địa phương.

2. Bảo đảm duy trì đường truyền để kết nối Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia với hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chuyên ngành có liên quan và các Phân hệ phần mềm báo cáo tại các Bộ, ngành, địa phương.

Điều 19. Xây dựng, quản lý, vận hành, phát triển Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia

1. Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia xây dựng theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch xây dựng Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia.

2. Văn phòng Chính phủ chủ trì xây dựng, thống nhất quản lý, vận hành, phát triển hệ thống thông tin báo cáo quốc gia, tổ chức, điều phối việc kết nối, cung cấp dữ liệu, thông tin giữa các hệ thống thông tin chuyên ngành trên toàn quốc.

Chương IV

TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC, CÁ NHÂN TRONG THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ BÁO CÁO

Điều 20. Trách nhiệm công khai, chia sẻ thông tin báo cáo

1. Các cơ quan hành chính nhà nước có trách nhiệm thực hiện công khai các thông tin báo cáo theo quy định tại Điều 17 Luật Tiếp cận thông tin và chia sẻ, cung cấp thông tin báo cáo theo quy định tại Điều 9 Luật Tiếp cận thông tin.

2. Đầu mối quản lý, lưu trữ, chia sẻ thông tin báo cáo như sau:

a) Văn phòng Chính phủ là cơ quan giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quản lý, lưu trữ, chia sẻ các thông tin báo cáo phục vụ sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

b) Văn phòng Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quản lý, lưu trữ, chia sẻ các thông tin báo cáo của ngành, lĩnh vực do Bộ, cơ quan quản lý, ban hành.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quy định riêng về đầu mối quản lý, lưu trữ, chia sẻ thông tin trong hệ thống tổ chức của mình.

c) Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý, lưu trữ, chia sẻ các thông tin báo cáo do các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh ban hành.

d) Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp huyện giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý, lưu trữ, chia sẻ các thông tin báo cáo do các cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện ban hành.

đ) Công chức văn phòng Ủy ban nhân dân cấp xã giúp Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, lưu trữ, chia sẻ các thông tin báo cáo do Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành.

Điều 21. Trách nhiệm các cơ quan trong việc khai thác, sử dụng dữ liệu trên Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia

1. Các cơ quan hành chính nhà nước được quyền khai thác cơ sở dữ liệu về thông tin báo cáo trên Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia theo phân cấp quản lý.

2. Các bộ, ngành, địa phương tham gia thu thập, xử lý, cập nhật thông tin báo cáo vào cơ sở dữ liệu; được truy cập và khai thác cơ sở dữ liệu về thông tin báo cáo theo phân quyền; được quyền trích xuất dữ liệu do mình trực tiếp cập nhật để tổ chức thành bộ dữ liệu riêng phục vụ yêu cầu của bộ, ngành và địa phương.

3. Văn phòng Chính phủ được truy cập Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia để tổng hợp, phân tích dữ liệu và dự báo tình hình,  phục vụ hoạt động chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Điều 22. Trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức và cá nhân, tổ chức có liên quan trong việc thực hiện chế độ báo cáo

1. Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, đúng quy trình, thời hạn của các chế độ báo cáo.

2. Các thông tin, số liệu báo cáo phải đảm bảo tính chính xác, khách quan, trung thực, phản ánh đúng thực tế.

3. Phối hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc chia sẻ, cung cấp thông tin, số liệu báo cáo khi được yêu cầu và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin, số liệu báo cáo do mình cung cấp.

4. Người ký báo cáo phải đúng thẩm quyền, phù hợp với từng loại báo cáo và chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân báo cáo.

5. Bố trí cán bộ, công chức có năng lực, chuyên môn phù hợp để thực hiện công tác báo cáo.

Điều 23. Trách nhiệm của Văn phòng Chính phủ

1. Tổng hợp, lưu trữ, chia sẻ thông tin báo cáo phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

2. Hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương định kỳ rà soát chế độ báo cáo để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước.

3. Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chế độ báo cáo phục vụ sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

4. Định kỳ rà soát, đánh giá quy định và việc thực hiện chế độ báo cáo theo thẩm quyền để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước và đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giải pháp nâng cao hiệu quả công tác báo cáo.

5. Hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương xây dựng các phân hệ phần mềm báo cáo và kết nối với Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia.

6. Chỉ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện việc kết nối, liên thông giữa Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia với hệ thống thông tin thống kê, hệ thống thông tin phân tích dự báo để cung cấp các công cụ trực quan hỗ trợ phân tích, dự báo, ra quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

7. Bố trí kinh phí đầu tư cơ sở vật chất, nhân lực đảm bảo cho Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia hoạt động thường xuyên, duy trì việc phối hợp, kết nối với các phân hệ phần mềm thông tin báo cáo. Bảo đảm kinh phí thực hiện việc cập nhật thông tin, đào tạo sử dụng Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia.

Điều 24. Trách nhiệm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

1. Chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan xây dựng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành bộ chỉ tiêu số liệu báo cáo định kỳ về kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

2. Phối hợp với Văn phòng Chính phủ thực hiện việc kết nối, liên thông giữa Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia với hệ thống thông tin thống kê, hệ thống thông tin phân tích dự báo để cung cấp thông tin phục vụ hoạt động chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Điều 25. Trách nhiệm của Bộ Thông tin và Truyền thông

1. Ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cấu trúc, định dạng dữ liệu gói tin phục vụ kết nối Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia, các hệ thống thông tin, các cơ sở dữ liệu chuyên ngành và các phân hệ phần mềm báo cáo liên quan trong quá trình thực hiện chế độ báo cáo của các cơ quan hành chính nhà nước.

2. Chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Bộ Công an thực hiện các biện pháp giám sát, biện pháp bảo đảm an toàn thông tin cho Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia; hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương bảo đảm an toàn thông tin cho các phân hệ phần mềm báo cáo.

3. Phối hợp với Văn phòng Chính phủ hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương xây dựng các phân hệ phần mềm báo cáo và kết nối với Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia.

Điều 26. Trách nhiệm của Bộ Nội vụ

1. Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương sửa đổi, bổ sung, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy định về quản lý, sử dụng, lưu trữ báo cáo điện tử, dữ liệu điện tử.

2. Chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về thể thức và kỹ thuật trình bày báo cáo điện tử.

Điều 27. Trách nhiệm của Ban Cơ yếu Chính phủ

1. Bảo đảm cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng thư số cho các bộ, ngành, địa phương và cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan thuộc hệ thống hành chính nhà nước có trách nhiệm thực hiện chế độ báo cáo trên Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia và các phân hệ phần mềm báo cáo.

2. Hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương về giải pháp tích hợp chữ ký số và xác thực chữ ký số trên Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia và các phân hệ phần mềm báo cáo theo phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao.

Điều 28. Trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND cấp tỉnh

1. Các bộ, cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm ban hành Thông tư quy định hoặc hướng dẫn đầy đủ các thành phần của chế độ báo cáo định kỳ thuộc ngành, lĩnh vực.

2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm ban hành Quyết định quy định chế độ báo cáo định kỳ phục vụ mục tiêu quản lý theo địa bàn.

3. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND cấp tỉnh tổ chức xây dựng các phân hệ phần mềm báo cáo theo hướng dẫn của Văn phòng Chính phủ và Bộ Thông tin và Truyền thông; hướng dẫn, tổ chức tập huấn cho các đối tượng thực hiện báo cáo.

4. Định kỳ rà soát chế độ báo cáo để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước, đáp ứng các nguyên tắc và yêu cầu của Nghị định này.

5. Chỉ đạo cơ quan chuyên trách về công nghệ thông tin, đơn vị vận hành xác định cấp độ bảo đảm an toàn thông tin và thực hiện phương án bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ đối với phân hệ phần mềm thông tin báo cáo thuộc phạm vi mình quản lý theo quy định của pháp luật. Thiết lập các hệ thống giám sát, phòng, chống tấn công, chống thất thoát dữ liệu, phòng, chống vi-rút để bảo đảm an toàn, an ninh cho hệ thống.

Chương V

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 29. Kinh phí thực hiện Nghị định

1. Kinh phí thực hiện các chế độ báo cáo của các cơ quan hành chính nhà nước được dự toán trong tổng kinh phí chi thường xuyên cho hoạt động quản lý nhà nước của bộ, ngành, địa phương hằng năm theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

2. Kinh phí thực hiện các chế độ báo cáo của các tổ chức, cá nhân do các các tổ chức, cá nhân đó tự bảo đảm.

3. Kinh phí đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, phân hệ phần mềm báo cáo của các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện quy định của pháp luật về đầu tư công và được thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu, công nghệ thông tin và pháp luật khác có liên quan.

Điều 30. Hiệu lực thi hành

1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày    tháng    năm 2018.

2. Các chế độ báo cáo do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành trước khi Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục có hiệu lực thi hành cho đến khi được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bị hủy bỏ, bãi bỏ.

Trước ngày 31 tháng 12 năm 2018, Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp cần ban hành văn bản để sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bị hủy bỏ, bãi bỏ các chế độ báo cáo do cơ quan mình ban hành nhằm đáp ứng các quy định tại Nghị định này và thực hiện Quyết định số 559/QĐ-TTg ngày 24 tháng 4 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án Đơn giản hóa chế độ báo cáo trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước”.

Điều 31. Trách nhiệm thi hành

1. Văn phòng Chính phủ hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Nghị định này.

2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp và tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

 

 

Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Tổng Bí thư;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Kiểm toán nhà nước;
- Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia;
- Ngân hàng Chính sách xã hội;
- Ngân hàng Phát triển Việt Nam;
- Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Cơ quan trung ương của các đoàn thể;
- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg, TGĐ Cổng TTĐT,
các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
- Lưu: VT, KSTT (2).
NTL

TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG






Nguyễn Xuân Phúc

 

 

Dự thảo Nghị định về chế độ báo cáo của cơ quan hành chính nhà nước
Số hiệu:
Khongso
Loại văn bản:
Nghị định
Nơi ban hành:
Chính phủ
Người kí:
Nguyễn Xuân Phúc
Ngày ban hành:
29/06/2018
Ngày hiệu lực:
Đã biết
Ngày công báo:
Đã biết
Số công báo
Đã biết
Tình trạng:
Đã biết

© 2018 - THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Địa chỉ:17 Nguyễn Gia Thiều, P.6, Q.3, TP.HCM
Điện thoại: (028) 3930 3279 (06 lines)
Fax: (028) 3930 3009
E-mail: info@ThuVienPhapLuat.vn

Giấy Chứng nhận số: 1802/2006/QTG của Bộ VHTT. Đơn vị chủ quản: Công ty cổ phần LawSoft. Giấy phép số: 37/GP-TTĐT do Sở TTTT TP. HCM cấp ngày 20/04/2015, thay thế Giấy phép số 61/GP-TTĐT do Bộ TTTT cấp ngày 04/06/2009, và thay thế Giấy phép số 73/GP-BC do Bộ VHTT cấp ngày 30/03/2006.

Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ

DMCA.com Protection Status
Top