CHÍNH PHỦ
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số:    /2018/NĐ-CP

Hà Nội, ngày   tháng    năm       2018

DỰ THẢO

 

 

NGHỊ ĐỊNH

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 19/2011/NĐ-CP NGÀY 21 THÁNG 3 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT NUÔI CON NUÔI

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Luật Nuôi con nuôi ngày 17 tháng 6 năm 2010;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp;

Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi;

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi

1. Khoản 1 Điều 2 được sửa đổi như sau:

“1. Đối với việc nuôi con nuôi trong nước,thì Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã), nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.

Trường hợp cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi; cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi hoặc có sự thoả thuận giữa người nhận con nuôi với cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người nhận con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi. trường hợp trẻ em bị bỏ rơi chưa chuyển vào cơ sở nuôi dưỡng được công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ em bị bỏ rơi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi; trường hợp trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng được công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.”

2. Bãi bỏ khoản 3 và  sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 3 như sau:

“Điều 3. Trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo được nhận đích danh làm con nuôi

1. Trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo được nhận đích danh làm con nuôi theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 28 của Luật Nuôi con nuôi, gồm trẻ

em bị sứt môi hở hàm ếch; trẻ em bị mù một hoặc cả hai mắt; trẻ em bị câm, điếc; trẻ em bị khoèo chân, tay; trẻ em không có ngón hoặc bàn chân, tay; trẻ em nhiễm HIV; trẻ em mắc các bệnh về tim; trẻ em bị thoát vị rốn, bẹn, bụng; trẻ em không có hậu môn hoặc bộ phận sinh dục; trẻ em mắc các bệnh về máu bị thalassemia, bị bệnh hồng cầu hình liềm; trẻ em mắc bệnh cần điều trị cả đời; trẻ em bị khuyết tật khác hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác mà cơ hội được nhận làm con nuôi bị hạn chế.

3. Điều 4 được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 4. Tiếp nhận, quản lý, sử dụng hỗ trợ nhân đạo cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở cơ sở nuôi dưỡng

Việc hỗ trợ nhân đạo cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở cơ sở nuôi dưỡng được thực hiện theo quy định tại Điều 7 của Luật Nuôi con nuôi và quy định cụ thể sau đây:

1. Cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước được khuyến khích hỗ trợ nhân đạo cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Việt Nam thông qua chương trình, dự án bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em tại cộng đồng, cơ sở nuôi dưỡng trẻ em; tài trợ cho Quỹ bảo trợ trẻ em hoặc hỗ trợ một lần, riêng lẻ bằng tiền, hiện vật, hàng hóa, chuyên gia, cung cấp đầu vào để tổ chức hội nghị, hội thảo, tập huấn, nghiên cứu, khảo sát, đào tạo.

2. Việc hỗ trợ nhân đạo được thực hiện trên tinh thần tự nguyện. Khi hỗ trợ nhân đạo, cá nhân, tổ chức không được yêu cầu cơ sở nuôi dưỡng cho trẻ em làm con nuôi; cơ sở nuôi dưỡng không được cam kết cho trẻ em làm con nuôi vì lý do đã nhận hỗ trợ nhân đạo.

Tổ chức con nuôi nước ngoài được cấp phép hoạt động tại Việt Nam không được hỗ trợ trực tiếp cho cơ sở nuôi dưỡng được chỉ định cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài.

3. Việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng các khoản hỗ trợ nhân đạo được thực hiện theo quy định pháp luật có liên quan.

Trường hợp hỗ trợ nhân đạo bằng tiền thì phải được thực hiện thông qua tài khoản của cơ sở nuôi dưỡng. Việc sử dụng các khoản hỗ trợ nhân đạo phải bảo đảm công khai, minh bạch, đúng mục đích chăm sóc và bảo vệ trẻ em.

4. Trường hợp cá nhân, tổ chức hỗ trợ nhân đạo là cha mẹ nuôi, tổ chức con nuôi nước ngoài thì phải báo cáo việc hỗ trợ như sau:

a) Cha mẹ nuôi thông tin cho tổ chức con nuôi nước ngoài được cấp phép hoạt động tại Việt Nam về các khoản hỗ trợ nhân đạo đã thực hiện ở Việt Nam.

b) Định kỳ 06 tháng và hằng năm hoặc theo yêu cầu, tổ chức con nuôi nước ngoài được cấp phép hoạt động tại Việt Nam báo cáo Bộ Tư pháp các khoản hỗ trợ nhân đạo của cha mẹ nuôi, tổ chức con nuôi nước ngoài.

5. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng hỗ trợ nhân đạo để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; xử lý hoặc đề nghị xử lý nghiêm minh hành vi tiếp nhận và sử dụng các khoản hỗ trợ nhân đạo trái pháp luật, không vì mục đích chăm sóc và bảo vệ trẻ em.

Điều 6a. Rà soát, chuyển đổi sang hình thức nuôi con nuôi

1. Ủy ban nhân dân cấp xã hàng tháng rà soát, đánh giá việc nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em đang được giao cho cá nhân, gia đình, tổ chức tạm thời nuôi dưỡng hoặc chăm sóc thay thế theo quy định của pháp luật mà chưa được giải quyết cho làm con nuôi.  Trường hợp trẻ em có nhu cầu tìm gia đình thay thế thì Ủy ban nhân dân cấp xã  em xét, giải quyết quyết hoặc hướng dẫn giải quyết việc nuôi con nuôi theo quy định pháp luật.

2. Trường hợp trẻ em có nhu cầu tìm gia đình thay thế nhưng không có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập hồ sơ đưa trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng để tìm gia đình thay thế cho trẻ em theo điểm a và điểm b khoản 2 Điều 15 của Luật Nuôi con nuôi.

5. Điều 6 được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 6. Lập danh sách, hồ sơ trẻ em và tìm gia đình thay thế

1. Trường hợp trẻ em sống ở cơ sở nuôi dưỡng, trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày tiếp nhận trẻ em, cơ sở nuôi dưỡng có trách nhiệm đánh giá nhu cầu tìm gia đình thay thế của trẻ em. Nếu có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì cơ sở nuôi dưỡng có trách nhiệm lập và cấp 01 bộ hồ sơ của trẻ em cho người nhận con nuôi để tiến hành thủ tục đăng ký nuôi con nuôi.

Nếu không có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì cơ sở nuôi dưỡng lập danh sách và hồ sơ trẻ em gồm các giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật Nuôi con nuôi  và văn bản về đặc điểm, sở thích, thói quen đáng lưu ý của trẻ em gửi xin ý kiến cơ quan chủ quản. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, cơ quan chủ quản gửi Sở Tư pháp danh sách và hồ sơ trẻ em để thực hiện tìm gia đình thay thế.

2. Việc tìm gia đình thay thế được thực hiện như sau:

a) Khi tiếp nhận danh sách và hồ sơ trẻ em theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước đăng ký nhu cầu nhận con nuôi theo quy định tại Điều 16 của Luật Nuôi con nuôi thì Sở Tư pháp chuyển hồ sơ trẻ em và giới thiệu người nhận con nuôi đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng để xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

b) Trường hợp không có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước đăng ký nhu cầu nhận con nuôi, Sở Tư pháp thông báo tìm gia đình thay thế đối với trẻ em không thuộc quy định tại khoản 1 Điều 3 của Nghị định này. Sau khi hết thời hạn thông báo theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 15 của Luật Nuôi con nuôi, nếu không có người nhận trẻ em làm con nuôi thì Sở Tư pháp lập và gửi danh sách trẻ em cần tìm gia đình thay thế cho Bộ Tư pháp để tìm gia đình thay thế theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 15 của Luật Nuôi con nuôi.

6. Điều 10 được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 10. Thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi

Điều 10. Bổ sung, thay đổi hộ tịch của con nuôi

Thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi được thực hiện theo quy định tại Điều 22 của Luật Nuôi con nuôi và quy định cụ thể sau đây:

1. Việc đăng ký nuôi con nuôi được tiến hành tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã. Khi đăng ký nuôi con nuôi, cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ, người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng và người được nhận làm con nuôi phải có mặt. Công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký nuôi con nuôi và trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho các bên.

Việc  thay đổi họ, tên của con nuôi, bổ sung thông tin về cha nuôi, mẹ nuôi và thay đổi thông tin từ cha đẻ, mẹ đẻ sang cha nuôi, mẹ nuôi trong Giấy khai sinh của con nuôi và cơ sở dữ liệu hộ tịch được thực hiện theo quy định pháp luật về hộ tịch và quy định sau đây:

1. Trường hợp con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi mà phần khai thông tin về cha mẹ trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh cơ sở dữ liệu hộ tịch còn để trống, thì căn cứ vào Giấy chứng nhận nuôi con nuôi, công chức tư pháp - hộ tịch ghi bổ sung các thông tin của cha mẹ nuôi vào phần khai về cha mẹ trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh  cơ sở dữ liệu hộ tịch; tại cột phần ghi chú trong Sổ đăng ký khai sinh cơ sở dữ liệu hộ tịch phải ghi rõ là cha mẹ nuôi.

2. Trường hợp có sự thỏa thuận giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi,  trẻ em được nhận làm con nuôi mà trong Giấy khai sinh đã có thông tin về cha đẻ, mẹ đẻ, theo yêu cầu của cha mẹ nuôi và sự đồng ý của con nuôi từ 09 tuổi trở lên, về việc thay đổi phần khai về cha mẹ trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh của con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký khai sinh cho trẻ em đăng ký khai sinh lại cho con nuôi và thu hồi Giấy khai sinh cũ; tại cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh phải ghi rõ là cha mẹ nuôi, cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi thông tin từ cha đẻ, mẹ đẻ sang cha nuôi, mẹ nuôi trong Giấy khai sinh của con nuôi và cơ sở dữ liệu hộ tịch;  tại cột phần ghi chú trong Sổ đăng ký khai sinh cơ sở dữ liệu hộ tịch phải ghi rõ là cha mẹ nuôi.”

7. Sửa đổi khoản 2 và bổ sung khoản 3 Điều 14 như sau:

2. Đối với trẻ em thuộc Danh sách 1 không thuộc diện quy định tại khoản 1 Điều 3 của Nghị định này, thì phải có các văn bản sau đây:

a) Văn bản của Sở Tư pháp kèm theo giấy tờ, tài liệu về việc đã thông báo tìm gia đình thay thế trong nước cho trẻ em theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 15 của Luật Nuôi con nuôi;

b) Văn bản xác nhận của Cục Con nuôi về việc đã hết thời hạn thông báo theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 15 của Luật Nuôi con nuôi nhưng không có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi.

3. Tại lễ giao nhận con nuôi, Sở Tư pháp cấp cho cha mẹ nuôi 01 bộ hồ sơ của trẻ em gồm các giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 32 và văn bản lấy ý kiến của những người liên quan về việc cho trẻ em làm con nuôi.”

8. Điều 16 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 16. Yêu cầu về xác nhận trẻ em có đủ điều kiện làm con nuôi ở nước ngoài

1. Trường hợp trẻ em thuộc diện quy định tại khoản 1 Điều 3 của Nghị định này, khi tiếp nhận danh sách và hồ sơ trẻ em theo quy định tại khoản 1 Điều 6 của Nghị định này, nếu không có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì Sở Tư pháp xác nhận trẻ em đủ điều kiện làm con nuôi nước ngoài, gửi Bộ Tư pháp để đề nghị các tổ chức con nuôi nước ngoài được cấp phép hoạt động tại Việt Nam nộp hồ sơ của người nhận con nuôi đích danh.

1. 2.Trước khi xác nhận trẻ em có đủ điều kiện làm con nuôi ở nước ngoài theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của Luật Nuôi con nuôi, Sở Tư pháp kiểm tra, thẩm định hồ sơ trẻ em và đối chiếu với các quy định về đối tượng, độ tuổi của trẻ em được nhận làm con nuôi, trường hợp được nhận đích danh, trường hợp phải thông qua thủ tục giới thiệu.

Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi được cho làm con nuôi ở nước ngoài, thì phải có văn bản xác minh và kết luận rõ ràng của Công an cấp tỉnh về nguồn gốc trẻ em bị bỏ rơi, không xác định được cha mẹ đẻ.

Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi nhưng Công an cấp tỉnh xác định được thông tin về cha, mẹ đẻ thì trước khi xác nhận trẻ em có đủ điều kiện làm con nuôi ở nước ngoài, Sở Tư pháp liên hệ với cha, mẹ đẻ để lấy ý kiến đồng ý về việc cho trẻ em làm con nuôi, trừ trường hợp trong thời hạn 06 tháng kể từ thời điểm Công an cấp tỉnh xác định được thông tin về cha, mẹ đẻ mà Sở Tư pháp vẫn không thể tìm lại được cha, mẹ đẻ hoặc không xác định được nơi cư trú hiện tại của cha, mẹ đẻ.

2.3. Việc xác nhận trẻ em có đủ điều kiện làm con nuôi phải bảo đảm trẻ em đáp ứng đủ các yêu cầu về độ tuổi, đối tượng được nhận đích danh, đối tượng phải thông qua thủ tục giới thiệu; hồ sơ phải có đủ các giấy tờ hợp lệ.

3. Trường hợp trẻ em thuộc Danh sách 1 có đủ điều kiện làm con nuôi, Sở Tư pháp phải có văn bản xác nhận đối với từng trường hợp cụ thể.

4. Sau khi xác nhận trẻ em đủ điều kiện làm con nuôi nước ngoài, Sở Tư pháp gửi Bộ Tư pháp văn bản xác nhận trẻ em đủ điều kiện làm con nuôi nước ngoài, hồ sơ trẻ em, văn bản lấy ý kiến của những người liên quan,  văn bản xác minh của Công an cấp tỉnh đối với trường hợp trẻ em bị bỏ rơi.”

9. Khoản 3 Điều 20 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“3. Trong khi kiểm tra kết quả giới thiệu trẻ em làm con nuôi giải quyết việc nuôi con nuôi theo quy định tại khoản 2 Điều 28 và khoản 2 Điều 36 của Luật Nuôi con nuôi, Bộ Tư pháp có thể lấy ý kiến của chuyên gia tâm lý, y tế, gia đình, xã hội. Nếu trẻ em có đủ điều kiện để cho làm con nuôi, việc giới thiệu giải quyết cho trẻ em làm con nuôi bảo đảm đúng trình tự, thủ tục quy định và đáp ứng lợi ích tốt nhất của trẻ em, thì Bộ Tư pháp thông báo bằng văn bản cho người nhận con nuôi hoặc Cơ quan Trung ương về nuôi con nuôi của nước ngoài kèm theo báo cáo đánh giá về trẻ em đủ điều kiện được cho làm con nuôi ở nước ngoài và văn bản lấy ý kiến của những người liên quan về việc đồng ý cho trẻ em làm con nuôi. Trường hợp trẻ em không đủ điều kiện để cho làm con nuôi, việc giới thiệu giải quyết cho  trẻ em làm con nuôi không bảo đảm đúng trình tự, thủ tục quy định và không đáp ứng lợi ích tốt nhất của trẻ em, thì Bộ Tư pháp thông báo cho Sở Tư pháp.”

10. Điều 30 được sửa đổi như sau:

“Điều 30. Ghi vào Sổ đăng ký nuôi con nuôi việc nuôi con nuôi đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài

1. Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì được ghi vào Sổ đăng ký nuôi con nuôi trong các trường hợp sau:

a) Việc nuôi con nuôi đã được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước nơi giải quyết việc nuôi con nuôi cùng là thành viên.

b) Việc nuôi con nuôi đã được giải quyết theo quy định pháp luật của nước ngoài, trừ trường hợp vi phạm những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

2. Hồ sơ ghi vào Sổ đăng ký nuôi con nuôi gồm các giấy tờ sau đây:

a) Giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 49 của Luật Hộ tịch;

b) Văn bản xác nhận việc nuôi con nuôi đã được thực hiện phù hợp với điều ước quốc tế đối với trường hợp nuôi con nuôi được giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.

3. Thẩm quyền, thủ tục ghi vào Sổ đăng ký nuôi con nuôi được thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

4. Bộ Tư pháp thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp huyện danh sách các nước có quan hệ hợp tác về nuôi con nuôi với Việt Nam theo điều ước quốc tế”

Điều 2. Thay thế, bãi bỏ quy định tại một số mục, điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi như sau:

1. Thay thế cụm từ “công nhận” tại khoản 2 Điều 1 và Mục 6 thành “ghi vào Sổ đăng ký nuôi con nuôi”.

2. Bãi bỏ cụm từ “của người đứng đầu tổ chức con nuôi nước ngoài theo quy định tại điểm e và” tại khoản 3 Điều 5.

3. Bãi bỏ Điều 11.

4. Bãi bỏ khoản 4 Điều 22.

5. Bãi bỏ điểm đ, e Điều 31.

Điều 3. Trách nhiệm tổ chức thực hiện

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Điều 4. Điều khoản thi hành

1.  Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ….. tháng ….. năm 2018.

2. Việc nuôi con nuôi đã được bắt đầu giải quyết trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành và chưa được giải quyết xong thì được tiếp tục giải quyết theo quy định của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi.

 

 

Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Tổng Bí thư;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Cơ quan trung ương của các đoàn thể;
- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg, TGĐ Cổng TTĐT, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
- Lưu: VT,
…..

TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG




Nguyễn Xuân Phúc

 

 

 

 

Dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 19/2011/NĐ-CP hướng dẫn Luật Nuôi con nuôi
Số hiệu:
Khongso
Loại văn bản:
Nghị định
Nơi ban hành:
Chính phủ
Người kí:
Nguyễn Xuân Phúc
Ngày ban hành:
31/08/2018
Ngày hiệu lực:
Đã biết
Ngày công báo:
Đã biết
Số công báo
Đã biết
Tình trạng:
Đã biết

© 2018 - THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Địa chỉ:17 Nguyễn Gia Thiều, P.6, Q.3, TP.HCM
Điện thoại: (028) 3930 3279 (06 lines)
E-mail: info@ThuVienPhapLuat.vn

Giấy Chứng nhận số: 1802/2006/QTG của Bộ VHTT. Đơn vị chủ quản: Công ty cổ phần LawSoft. Giấy phép số: 37/GP-TTĐT do Sở TTTT TP. HCM cấp ngày 20/04/2015, thay thế Giấy phép số 61/GP-TTĐT do Bộ TTTT cấp ngày 04/06/2009, và thay thế Giấy phép số 73/GP-BC do Bộ VHTT cấp ngày 30/03/2006.

Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ

DMCA.com Protection Status
Top