Bộ lọc tìm kiếm

Tải văn bản

Lưu trữ Góp ý

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • Tiếng anh
  • Lược đồ

CHÍNH PHỦ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 26/1999/NĐ-CP

Hà Nội, ngày 19 tháng 4 năm 1999

 

NGHỊ ĐỊNH

CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 26/1999/NĐ-CP NGÀY 19 THÁNG 4 NĂM 1999 VỀ CÁC HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Điều 70 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo pháp luật;
Theo đề nghị của Trưởng ban Tôn giáo của Chính phủ,

NGHỊ ĐỊNH

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo.

Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo.

Điều 2. Công dân theo tôn giáo hoặc không theo tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, được hưởng mọi quyền công dân và có trách nhiệm thực hiện mọi nghĩa vụ công dân.

Điều 3. Các hoạt động tôn giáo phải tuân theo pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Điều 4. Những hoạt động tôn giáo vì lợi ích chính đáng và hợp pháp của tín đồ được bảo đảm.

Những hoạt động tôn giáo vì lợi ích của Tổ quốc và nhân dân được khuyến khích.

Điều 5. Mọi hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mọi hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, phá hoại sự nghiệp đoàn kết toàn dân, làm hại đến nền văn hóa lành mạnh của dân tộc và hoạt động mê tín dị đoan đều bị xử lý theo pháp luật.

Chương 2:

NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ

Điều 6. Mọi công dân có quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào, từ bỏ hoặc thay đổi tôn giáo.

Điều 7.

1. Tín đồ có quyền thực hiện các hoạt động tôn giáo không trái với chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước, tiến hành các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện tại gia đình và tham gia các hoạt động tôn giáo, học tập giáo lý, đạo đức, phục vụ lễ nghi tôn giáo tại cơ sở thờ tự.

2. Tín đồ không được lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm trái pháp luật, không được hoạt động mê tín dị đoan.

Điều 8.

1. Tổ chức tôn giáo có tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo, cơ cấu tổ chức phù hợp với pháp luật và được Thủ tướng Chính phủ cho phép hoạt động thì được pháp luật bảo hộ.

2. Các hoạt động tôn giáo tại cơ sở thờ tự tôn giáo (các buổi cầu nguyện, hành lễ, giảng đạo, học tập giáo lý) đã đăng ký hàng năm và thực hiện trong khuôn viên cơ sở thờ tự thì không phải xin phép.

3. Những hoạt động tôn giáo vượt ra ngoài khuôn viên cơ sở thờ tự hoặc chưa đăng ký hàng năm phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

4. Tổ chức tôn giáo được tạo nguồn tài chính từ sự ủng hộ tự nguyện của cá nhân, tổ chức, từ những thu nhập hợp pháp khác.

Việc tổ chức quyên góp phải được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho phép. Nghiêm cấm việc ép buộc tín đồ đóng góp.

Việc quản lý, sử dụng các khoản tài chính có được từ các nguồn trên đây thực hiện theo quy định của pháp luật.

5. Tổ chức tôn giáo hoạt động trái tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo, cơ cấu tổ chức đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép thì bị đình chỉ hoạt động. Những cá nhân chịu trách nhiệm về những vi phạm đó bị xử lý theo pháp luật.

Điều 9. Các cuộc tĩnh tâm của linh mục trong giáo phận, của các tu sĩ tập trung từ nhiều cơ sở, dòng tu của đạo Thiên chúa, các cuộc bồi linh của mục sư và truyền đạo của đạo Tin lành, các kỳ an cư của tăng, ni đạo Phật và những sinh hoạt tôn giáo tương tự của các tôn giáo khác thực hiện theo quy định của cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh về tôn giáo.

Điều 10.

1. Đại hội, hội nghị của tổ chức tôn giáo cấp toàn quốc hoặc có liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải được phép của Thủ tướng Chính phủ;

2. Đại hội, hội nghị của tổ chức tôn giáo các cấp ở địa phương phải được phép của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Điều 11.

1. Nhà nước bảo hộ nơi thờ tự của tổ chức tôn giáo.

2. Tổ chức tôn giáo có trách nhiệm giữ gìn, tu bổ nơi thờ tự.

3. Nhà, đất và các tài sản khác đã được tổ chức, cá nhân tôn giáo chuyển giao cho các cơ quan nhà nước quản lý, sử dụng do thực hiện chính sách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tặng, hiến cho Nhà nước thì đều thuộc quyền sở hữu của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Điều 12.

1. Việc sửa chữa, xây dựng tại cơ sở thờ tự đã được xếp hạng di tích lịch sử, văn hóa, danh lam, thắng cảnh thực hiện theo quy định tại "Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam, thắng cảnh" ngày 31 tháng 3 năm 1984.

2. Việc tu bổ và sửa chữa nhỏ, không làm thay đổi cấu trúc, kiến trúc công trình thuộc cơ sở thờ tự do cơ sở thờ tự tổ chức thực hiện sau khi thông báo cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã sở tại.

3. Việc sửa chữa lớn làm thay đổi cấu trúc, kiến trúc công trình tại cơ sở thờ tự, việc khôi phục công trình thờ tự bị hoang phế, bị hủy hoại do chiến tranh, thiên tai, rủi ro; việc tạo lập cơ sở thờ tự, việc xây dựng công trình thờ tự (nhà, tượng, bia, đài, tháp và các công trình nhằm mục đích thờ tự) phải được phép của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

4. Việc tổ chức quyên góp để tạo nguồn tài chính cho việc xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự phải được phép của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Điều 13. Việc hành đạo được bảo đảm thực hiện bình thường tại cơ sở thờ tự tôn giáo được xếp hạng theo quy định tại "Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam, thắng cảnh" ngày 31 tháng 3 năm 1984.

Điều 14.

1. Việc in, xuất bản các loại kinh, sách và các xuất bản phẩm tôn giáo, việc sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu văn hóa phẩm tôn giáo, đồ dùng trong việc đạo thực hiện theo các quy chế của Nhà nước về in, xuất bản, sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu văn hóa phẩm, hàng hóa.

2. Cấm in, sản xuất, kinh doanh, lưu hành, tàng trữ sách báo, văn hóa phẩm có nội dung chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gây chia rẽ tôn giáo, chia rẽ dân tộc, gây mất đoàn kết trong nhân dân.

Điều 15.

1. Chức sắc, nhà tu hành tôn giáo có quyền:

Được thực hiện chức trách, chức vụ tôn giáo của mình trong phạm vi trách nhiệm đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận;

Được Nhà nước xét khen thưởng công lao đóng góp trong sự nghiệp đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;

Được hưởng các quyền lợi chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của công dân.

2. Chức sắc, nhà tu hành tôn giáo có nghĩa vụ:

- Thực hiện đúng chức trách, chức vụ tôn giáo trong phạm vi trách nhiệm tôn giáo đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chấp thuận và chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động tôn giáo trong phạm vi trách nhiệm đó;

- Động viên tín đồ chấp hành nghiêm chỉnh chính sách và pháp luật của Nhà nước.

Điều 16. Người mạo danh chức sắc, nhà tu hành tôn giáo bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Người đang chấp hành án phạt tù hoặc đang bị quản chế hành chính không được thực hiện chức trách, chức vụ tôn giáo. Việc phục hồi chức trách, chức vụ tôn giáo của người đã hết hạn chấp hành các hình phạt kể trên phải do tổ chức tôn giáo quản lý người đó đề nghị và được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.

Điều 17.

1. Chức sắc, nhà tu hành tôn giáo được hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội như mọi công dân khác.

2. Chức sắc, nhà tu hành và tổ chức tôn giáo hoạt động từ thiện theo quy định của Nhà nước. Các cơ sở từ thiện do chức sắc, nhà tu hành và tổ chức tôn giáo bảo trợ hoạt động theo sự hướng dẫn của các cơ quan chức năng của Nhà nước.

Điều 18.

1. Việc mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành tôn giáo phải được phép của Thủ tướng Chính phủ.

2. Tổ chức và hoạt động của các trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành tôn giáo thực hiện theo các quy định của Ban Tôn giáo của Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo.

3. Trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành tôn giáo thực hiện các quy chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước theo sự hướng dẫn, giám sát, kiểm tra của các cơ quan chức năng của Nhà nước và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sở tại.

Điều 19.

1. Các dòng tu (hoặc các hình thức tổ chức tu hành tập thể tương tự) muốn hoạt động phải xin phép và được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Việc tiếp nhận người nhập tu thực hiện theo quy định của Ban Tôn giáo của Chính phủ.

Điều 20.

1. Việc phong giáo phẩm Hòa thượng trong đạo Phật, Hồng y, Giám mục, chức vụ Giám quản trong đạo Thiên chúa và các giáo phẩm, chức vụ tương đương trong các tôn giáo khác phải được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ.

2. Việc phong chức cho chức sắc, nhà tu hành tôn giáo không thuộc diện nói tại khoản 1 Điều này phải được sự chấp thuận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Điều 21. Việc bổ nhiệm, thuyên chuyển những chức sắc, nhà tu hành và những người chuyên hoạt động tôn giáo, kể cả những người do tín đồ bầu ra tùy theo địa bàn hoạt động cụ thể phải được Chủ tịch Ủy ban nhân dân quản lý hành chính các địa bàn đó chấp thuận.

Điều 22.

1. Tổ chức, cá nhân tôn giáo báo cáo với Ban Tôn giáo của Chính phủ về những hướng dẫn của tổ chức, cá nhân tôn giáo ở nước ngoài và thực hiện những hướng dẫn đó theo sự chấp thuận của Ban Tôn giáo của Chính phủ.

2. Chức sắc, nhà tu hành tôn giáo được tổ chức, cá nhân tôn giáo ở nước ngoài phong giáo phẩm, phong chức, bổ nhiệm phải được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ.

Điều 23. Hoạt động quốc tế của tổ chức, cá nhân tôn giáo phải tuân thủ pháp luật và phù hợp với chính sách đối ngoại của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghiã Việt Nam trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và hữu nghị.

Điều 24.

1. Tổ chức, cá nhân tôn giáo ở trong nước mời tổ chức, cá nhân tôn giáo ở nước ngoài vào Việt Nam phải được sự chấp thuận của Ban Tôn giáo của Chính phủ.

2. Tổ chức, cá nhân ở trong nước tham gia làm thành viên của tổ chức tôn giáo ở nước ngoài, tham gia các hoạt động tôn giáo hoặc có liên quan đến tôn giáo ở nước ngoài thực hiện theo quy định của Ban Tôn giáo của Chính phủ.

Điều 25.

1. Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được sinh hoạt tôn giáo theo pháp luật Việt Nam. Việc tập trung thành nhóm riêng để sinh hoạt tôn giáo tại cơ sở thờ tự phải được phép của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài, kể cả tổ chức, cá nhân tôn giáo, vào Việt Nam để hoạt động ở các lĩnh vực không phải là tôn giáo thì không được tổ chức, điều hành hoặc tham gia tổ chức, điều hành các hoạt động tôn giáo không được truyền bá tôn giáo.

Điều 26.

1. Các hoạt động viện trợ của các tổ chức tôn giáo nước ngoài hoặc có liên quan đến tôn giáo nước ngoài đều tuân theo chính sách, chế độ quản lý viện trợ hiện hành và thông qua các cơ quan được Chính phủ Việt Nam giao phụ trách công tác quản lý viện trợ.

2. Các tổ chức, cá nhân tôn giáo trong nước muốn nhận viện trợ thuần tuý tôn giáo phải xin phép Thủ tướng Chính phủ.

Chương 3:

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 27. Nghị định này thay thế Nghị định số 69/HĐBT ngày 21 tháng 3 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) và có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký. Những quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.

Điều 28. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Điều 29. Trưởng Ban Tôn giáo của Chính phủ hướng dẫn, đôn đốc và kiểm tra việc thi hành Nghị định này.

 

 

Phan Văn Khải

(Đã ký)

 

THE GOVERNMENT
-------

SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom – Happiness
----------

No: 26/1999/ND-CP

Hanoi, April 19, 1999

 

DECREE

ON RELIGIOUS ACTIVITIES

THE GOVERNMENT

Pursuant to Article 70 of the 1992 Constitution of the Socialist Republic of Vietnam;
Pursuant to the Law on Organization of the Government of September 30, 1992;
To ensure the freedom of belief and religion of citizens, creating conditions for religious organizations to operate according to law;
At the proposal of the Head of the Religion Commission of the Government,

DECREES:

Chapter I

GENERAL PROVISIONS

Article 1.- The State of the Socialist Republic of Vietnam ensures the freedom of belief and religion and the freedom of non-belief and non-religion.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Article 2.- Religious and non-religious citizens are equal before law, enjoy all citizen’s rights and have the responsibility to discharge all citizen’s obligations.

Article 3.- Religious activities must obey the law of the State of the Socialist Republic of Vietnam.

Article 4.- Religious activities in the legitimate and lawful interests of the believers are assured.

Religious activities in the interests of the Motherland and the people are encouraged.

Article 5.- All acts of violation of the freedom of belief and religion, all acts of misusing belief and religion to oppose the State of the Socialist Republic of Vietnam, prevent believers from discharging their citizen’s obligation, sabotage the cause of unity of the entire people, and harm the healthy culture of the nation, and all superstitious activities shall be dealt with according to law.

Chapter II

SPECIFIC STIPULATIONS

Article 6.- Every citizen has the freedom to embrace or not to embrace a religion and to quit or change his/her religion.

Article 7.-

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



2. Religious believers must not misuse belief and religion to act in contravention of law and must not engage in superstitious activities.

Article 8.-

1. Religious organizations which have set their principles, objectives and lines of activity, have an organizational structure conforming to law and are permitted to carry out their activities by the Prime Minister shall be protected by law.

2. Religious activities at the places of religious worship (sessions of prayers, ceremonies, sermons, study of religious preachings) which have been annually registered and are conducted within the enclosure of the places of worship shall not have to ask for permission.

3. Religious activities which are held beyond the enclosure of the places of worship or are not annually registered must have the permission of the competent State agency.

4. Religious organizations are entitled to raise their own financial resources from the voluntary support of individuals and organizations and from other sources of lawful income.

The organization of collections must be permitted by the President of the Provincial People’s Committee. Coercion of religious believers to contribute is strictly forbidden.

The management and use of the financial resources obtained from the above sources shall be conducted according to provisions of law.

5. Religious organizations which act contrarily to the principle, objective, line of worship and organizational structure permitted by the Prime Minister shall have their operations suspended. The individuals responsible for these violations shall be dealt with according to law.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Article 10.-

1. Congresses and conferences of religious organizations at national level or related to many provinces and centrally-run cities must be permitted by the Prime Minister.

2. Congresses and conferences of religious organizations at local level must be permitted by the President of the provincial People’s Committee.

Article 11.-

1. The State protects the places of worship of religious organizations.

2. Religious organizations have the responsibility to preserve and recondition the places of worship.

3. Houses, land and other properties which have been transferred by religious organizations and individuals to State agencies for management and use in implementation of the policy of the State of the Democratic Republic of Vietnam, the Provisional Revolutionary Government of the Republic of South Vietnam and the State of the Socialist Republic of Vietnam, or which have been offered or donated to the State, come under the ownership of the State of the Socialist Republic of Vietnam.

Article 12.-

1. The repairs and reconstruction at the places of worship which have been classified as historic or cultural relics or places of scenic beauty shall comply with the stipulations of the "Ordinance on the protection and use of historical and cultural relics and places of scenic beauty" of March 31, 1984.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



3. Major repairs which change the structure or architecture of the construction at the places of worship, the restoration of worshipping places abandoned or destroyed by war, natural disasters, and accidents; the establishment of places of worship and the building of worshipping constructions (houses, statues, stelae, monuments, towers and other constructions for worshipping purposes) must be permitted by the President of the People’s Committee of provincial level.

4. The organization of collections to create financial resources for the building and repair of the place of worship must have the permission of the President of the People’s Committee of provincial level.

Article 13.- Normal religious practice is assured at the classified religious worshipping places as stipulated in the "Ordinance on the protection and use of historical and cultural relics and places of scenic beauty" of March 31, 1984.

Article 14.-

1. The printing and publication of bibles and books and other religious publications, the production, business and export-import activities in religious cultural articles, products used in religious practice shall be carried out according to regulations of the State on printing, publication, production, business and import-export of cultural products and goods.

2. It is forbidden to print, produce, deal in, circulate and store books, magazines and cultural products with contents which oppose the State of the Socialist Republic of Vietnam, which cause religious division, national division and disruption of solidarity among the people.

Article 15.-

1. Religious dignitaries and priests have the right:

- To carry out their religious functions and roles within the domain of their responsibility which have been approved by the competent State agency;

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



- To enjoy all political, economic, cultural and social interests of citizens.

2. Religious dignitaries and priests have the obligation:

- To carry out exactly their functions and roles in the domain of their religious responsibility already approved by the competent State management agency and have to bear responsibility before law for all their religious activities within this area of responsibility.

- To encourage the faithful to seriously execute the policies and laws of the State.

Article 16.- Persons assuming wrongfully the name of religious dignitaries and priests shall be sanctioned administratively or examined for penal liability.

Persons who are serving prison terms or who are under administrative probation are not allowed to carry out religious functions or roles. The restoration of the religious functions or roles of those who have completed the term of these sanctions must be proposed by the religious organization that manages them and approved by the competent State management agency.

Article 17.-

1. Religious dignitaries and priests can conduct economic, cultural and social activities like any other citizen.

2. Religious dignitaries, priests and organizations shall conduct charity activities according to prescriptions of the State. The charity establishments sponsored by religious dignitaries, priests and organizations shall operate under the guidance of specialized State agencies.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



1. The opening of schools to train religious dignitaries and priests must be permitted by the Prime Minister.

2. The organization and activities of the schools to train religious dignitaries and priests shall conform to the prescriptions of the Religion Commission of the Government and the Ministry of Education and Training.

3. The schools to train religious dignitaries and priests shall carry out the regulations, policies and laws of the State under the guidance, supervision and inspection of the specialized agencies of the State and the provincial People’s Committee.

Article 19.-

1. Religious orders (or similar forms of collective religious practice) shall have to ask for permission and get the approval of the competent State agency to conduct their activities.

2. The admission of seminarists shall conform with stipulations of the Religion Commission of the Government.

Article 20.-

1. The bestowal of religious titles of Venerable Bonze in Buddhism, Cardinal, Bishop and Curate in Catholicism and equivalent titles and posts in other religions must be approved by the Prime Minister.

2. The investing of religious dignitaries and priests not covered by Clause 1 of this Article must be approved by the President of the provincial People’s Committee.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Article 22.-

1. Religious organizations and individuals shall have to report to the Religion Commission of the Government on the instructions of foreign religious organizations and individuals and shall carry out these instructions according to the agreement of the Religion Commission of the Government.

2. Religious dignitaries and priests who are invested, promoted and appointed by foreign religious organizations and individuals shall have to be approved by the Prime Minister.

Article 23.- International activities of religious organizations and individuals shall have to comply with law and conform with the foreign policy of the State of the Socialist Republic of Vietnam on the basis of respect for national independence and sovereignty, peace, stability, cooperation and friendship.

Article 24.-

1. Religious organizations and individuals in the country that want to invite foreign religious organizations and individuals into Vietnam must have the approval of the Religion Commission of the Government.

2. Organizations and individuals in the country that take part in the membership of foreign religious organizations or in religious activities or activities related to religions in foreign countries must comply with the regulations of the Religion Commission of the Government.

Article 25.-

1. Foreigners who legally reside in Vietnam are allowed to carry out religious activities according to Vietnamese law. The gathering into separate groups to conduct religious activities at the place of worship must be permitted by the President of the provincial People’s Committee.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Article 26.-

1. Aid activities of foreign religious organizations or related to foreign religions shall have to conform with the current policy and regime of aid management and to go through the agencies entrusted by the Vietnamese Government with managing aid.

2. Religious organizations and individuals in the country that want to receive purely religious aid must ask for permission from the Prime Minister.

Chapter III

IMPLEMENTATION PROVISIONS

Article 27.- This Decree replaces Decree No. 69/HDBT of March 21, 1991 of the Council of Ministers (now the Government) and takes effect 15 days after its signing. The earlier stipulations which are contrary to this Decree are now annulled.

Article 28.- The ministers, the heads of ministerial-level agencies, the heads of the agencies attached to the Government, the presidents of the People’s Committees of the provinces and centrally-run cities shall have to implement this Decree.

Article 29.- The head of the Religion Commission of the Government shall guide, promote and inspect the implementation of this Decree.

 

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



THE GOVERNMENT




Phan Van Khai

 

;

Nghị định 26/1999/NĐ-CP về các hoạt động tôn giáo

Số hiệu: 26/1999/NĐ-CP
Loại văn bản: Nghị định
Nơi ban hành: Chính phủ
Người ký: Phan Văn Khải
Ngày ban hành: 19/04/1999
Ngày hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Văn bản được hướng dẫn - [0]
Văn bản được hợp nhất - [0]
Văn bản bị sửa đổi bổ sung - [0]
Văn bản bị đính chính - [0]
Văn bản bị thay thế - [1]
Văn bản được dẫn chiếu - [0]
Văn bản được căn cứ - [2]
Văn bản liên quan ngôn ngữ - [1]

Văn bản đang xem

Nghị định 26/1999/NĐ-CP về các hoạt động tôn giáo

Văn bản liên quan cùng nội dung - [4]
Văn bản hướng dẫn - [1]
Văn bản hợp nhất - [0]
Văn bản sửa đổi bổ sung - [0]
Văn bản đính chính - [0]
Văn bản thay thế - [0]
Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Tài khoản để biết được tình trạng hiệu lực, tình trạng đã bị sửa đổi, bổ sung, thay thế, đính chính hay đã được hướng dẫn chưa của văn bản và thêm nhiều tiện ích khác
Loading…