Bộ lọc tìm kiếm

Tải văn bản

Lưu trữ Góp ý

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • Tiếng anh
  • Lược đồ

BỘ QUỐC PHÒNG
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
--------------

Số: 95/2003/QĐ-BQP

Hà Nội, ngày 07 tháng 08 năm 2003

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ VIỆC BAN HÀNH “QUY TRÌNH KỸ THUẬT THĂM DÒ TÌM, XỬ LÝ BOM-MÌN-VẬT NỔ”

BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG

Căn cứ vào Luật tổ chức Chính phủ ngày 25/12/2001;
Căn cứ vào Nghị định số 41/CP ngày 5/7/1996 của Chính phủ về chức năng, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Quốc phòng;
Để đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ dò tìm, xử lý bom, mìn, vật nổ, giải phóng mặt bằng phục vụ thi công các công trình quốc phòng và phát triển kinh tế;
Xét đề nghị của Bộ Tư lệnh Công binh,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành “Quy trình kỹ thuật dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ”.

Quy trình kỹ thuật này là cơ sở để các cơ quan quản lý và đơn vị có chức năng dò tìm, xử lý bom-mìn, vật nổ áp dụng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 07 tháng 8 năm 2003, Bộ Tổng tham mưu, BTL Công binh và các cơ quan, đơn vị có liên quan thi hành Quyết định này.

 

 

Nơi nhận:
- Các Bộ: Xây dựng, KH&ĐT, Công nghiệp, Giao thông – vận tải,
- BTTM, TCKT, TC CNQP,
- BTL Công binh,
- Các QK: 1, 2, 3, 4, 5, 7, 9, Thủ đô,
- Các Quân đoàn: 1, 2, 3, 4,
- QC: HQ, PK-KQ,
- Các BC: PB, TT, HH, Tăng – TG;
- Các binh đoàn: 11, 12, 15, 16,
- Các Cục: KH&ĐT Tài chính, Kinh tế, Tác chiến, Quân lực, Chính sách, XD-QLNĐ,
- Các DN được cấp giấy phép rà phá bom mìn,
- Lưu
(m3)

K/T BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG
THỨ TRƯỞNG
THƯỢNG TƯỚNG




Phùng Quang Thanh

 

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG I: ĐẶC ĐIỂM, YÊU CẦU VÀ CÁC QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1: Địa điểm của công tác dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ.

Điều 2: Yêu cầu của công tác dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ.

Điều 3: Tiêu chuẩn phân đội dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ.

Điều 4: Phân loại mật độ tín hiệu bom-mìn-vật nổ.

Điều 5: Diện tích, độ sâu, hành lang an toàn trong dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ.

CHƯƠNG II: CÔNG TÁC CHUẨN BỊ

Điều 6: Khảo sát, thu thập các số liệu, đánh dấu phạm vi dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ

Điều 7: Lập phương án, tổ chức thi công dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ

CHƯƠNG III: DÒ TÌM, XỬ LÝ BOM–MÌN–VẬT NỔ TRÊN CẠN.

Điều 8. Khoanh khu vực dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ.

Điều 9: Thứ tự các bước khi dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ trên cạn.

Điều 10: Dọn mặt bằng.

Điều 11: Dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ bằng thủ công đến độ sâu 7cm.

Điều 12: Kiểm tra, phá hủy tại chỗ bom-mìn-vật nổ đến độ sâu 7cm.

Điều 13: Dò tìm bằng máy dò mìn đến độ sâu 30 cm.

Điều 14: Đào kiểm tra, xử lý tín hiệu đến độ sâu 30 cm.

Điều 15: Dò tìm bằng máy dò bom ở độ sâu từ 0,3m đến 3m hoặc đến 5m.

Điều 16: Đào đất kiểm tra, xử lý tín hiệu đến độ sâu 3m.

Điều 17: Đào đất kiểm tra, xử lý tín hiệu đến độ sâu 5m.

Điều 18: Dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ ở các độ sâu lớn hơn 5m.

CHƯƠNG IV: DÒ TÌM, XỬ LÝ BOM–MÌN–VẬT NỔ DƯỚI NƯỚC

Điều 19: Thứ tự các bước khi dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ dưới nước.

Điều 20: Chuẩn bị mặt bằng.

Điều 21: Dò tìm ở độ sâu đến 0,5m tính từ đáy nước.

Điều 22: Đánh dấu tín hiệu ở độ sâu đến 0,5m tính từ đáy nước.

Điều 23: Lặn kiểm tra, đào xử lý tín hiệu ở độ sâu đến 0,5m tính từ đáy nước.

Điều 24: Dò tìm ở độ sâu từ 0,5m đến 3m hoặc đến 5m tính từ đáy nước.

Điều 25: Đánh dấu tín hiệu ở độ sâu từ 0,5m đến 3m hoặc đến 5m tính từ đáy nước.

Điều 26: Lặn kiểm tra, đào xử lý tín hiệu ở độ sâu từ lớn hơn 0,5 m đến 1m tính từ đáy nước.

Điều 27: Lập phương án và tổ chức thi công đào, xử lý tín hiệu dưới nước ở độ sâu từ lớn hơn 1m đến 3m hoặc đến 5m tính từ đáy nước.

CHƯƠNG V: THU GOM, PHÂN LOẠI, QUẢN LÝ, VẬN CHUYỂN VÀ HỦY BOM–MÌN–VẬT NỔ DÒ TÌM ĐƯỢC

Điều 28: Thu gom, phân loại bom–mìn–vật nổ dò tìm được.

Điều 29: Vận chuyển bom–mìn–vật nổ dò tìm được.

Điều 30: Cất giữ, bảo quản bom–mìn–vật nổ dò tìm được.

Điều 31: Hủy bom-mìn-vật nổ dò tìm được.

CHƯƠNG VI: CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT KỸ THUẬT NGHIỆM THU BÀN GIAO

Điều 32: Kiểm tra chất lượng công trình.

Điều 33: Giám sát kỹ thuật.

Điều 34: Nghiệm thu, bàn giao.

CHƯƠNG VII: QUY TẮC AN TOÀN

Điều 35: Quy tắc an toàn chung.

Điều 36: Quy tắc an toàn trong dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ.

Điều 37: Quy tác an toàn khi thu gom, phân loại, vận chuyển và hủy bom-mìn-vật nổ dò tìm được.

CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

MỞ ĐẦU

Trong gần nửa thế kỷ đất nước ta đã phải chịu nhiều cuộc chiến tranh như: năm kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ, chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc và phía Tây Nam; đất đai và con người Việt Nam đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi số lượng lớn bom, đạn do các bên sử dụng. Theo số liệu thống kê được chỉ tính riêng cuộc kháng chiến chống Mỹ số bom, đạn do Hoa Kỳ sử dụng ở Việt Nam đã là 15.350 triệu tấn. Như vậy số lượng bom, đạn ước tính bình quân lên tới 46 tấn/km2 hoặc 280 kg/đầu người.

Theo các tài liệu tổng kết của ta tỷ lệ bom-mìn-vật nổ chưa nổ chiếm từ 2% đến 5% số lượng bom-mìn-vật nổ đã sử dụng, thì hiện còn khoảng 350 đến 800 nghìn tấn chưa nổ. Theo các tài liệu nước ngoài tỷ lệ này khoảng 10% thì số lượng bom-mìn-vật nổ đã được sử dụng nhưng chưa nổ còn sót lại sẽ lớn hơn nhiều. Sau khi chiến tranh kết thúc, hàng ngày vẫn thường xuyên xảy ra các vụ tai nạn đau thương do bom-mìn-vật nổ gây ra.

Trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, việc khắc phục bom-mìn-vật nổ chưa nổ còn nằm sâu trong lòng đất trên khắp mọi miền đất nước, phục vụ cho các dự án đầu tư xây dựng cơ bản, khai hoang phục hóa, góp phần ổn định đời sống nhân dân là một trong những nhiệm vụ quan trọng cấp bách phải làm liên tục và lâu dài nhằm bảo đảm an toàn tuyệt đối cho nhân dân và các công trình kinh tế, quốc phòng của đất nước.

Khắc phục bom-mìn-vật nổ còn lại sau chiến tranh là một công việc vô cùng khó khăn và nguy hiểm phải do các lực lượng, chuyên trách, được đào tạo cơ bản, có chuyên môn kỹ thuật giỏi, có đầy đủ trang, thiết bị đúng tiêu chuẩn và được tổ chức một cách khoa học, chặt chẽ thì công việc mới có thể tiến hành có hiệu quả và bảo đảm an toàn.

Nhằm đáp ứng được nhiệm vụ dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ phục vụ cho nhu cầu dân sinh và xây dựng đất nước, vào từng thời điểm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cụ thể của từng giai đoạn nhất định, Bộ Quốc phòng đã ban hành một số quy trình dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ; nhưng đến nay do nhiều yếu tố và điều kiện thay đổi nên một số nội dung của các quy trình đã ban hành không còn phù hợp với thực tế.

Trên cơ sở các văn bản đã ban hành cùng những kinh nghiệm thực tế tổng kết được sau nhiều năm thực hiện công việc dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ cộng với sự phát triển không ngừng của thiết bị công nghệ phục vụ nhiệm vụ dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ trong nước và trên thế giới.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay Bộ Quốc phòng ban hành tập “Quy trình kỹ thuật dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ này thay thế cho các văn bản đã ban hành trước đây. Đây là văn bản pháp lý quy định những nội dung công việc cũng như thứ tự các bước trong việc tổ chức thực hiện công tác này để áp dụng thống nhất trong các nhiệm vụ An ninh – Quốc phòng – Kinh tế.

 

Chương 1.

ĐẶC ĐIỂM, YÊU CẦU VÀ CÁC QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Đặc điểm của công tác dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ

1. Dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ sau chiến tranh (sau đây sẽ viết tắt là DTXLBMVN) là một công việc đặc biệt nguy hiểm có tính đặc thù riêng mang tính trách nhiệm cao, đây là nhiệm vụ chính trị có ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự an toàn xã hội, không đơn thuần như các hoạt động kinh tế xã hội khác, chỉ có các lực lượng Công binh chuyên trách có đủ năng lực (về con người và trang thiết bị) mới được giao thực hiện nhiệm vụ này.

2. DTXLBMVN là nhiệm vụ đặc biệt khó khăn, nguy hiểm, độc hại có ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng và sức khỏe của những người làm nhiệm vụ nên yêu cầu phải có chế độ đãi ngộ riêng.

3. Công việc DTXLBMVN được thực hiện trên phạm vi cả nước ở tất cả các loại địa hình khác nhau (trên cạn hoặc dưới nước, vùng biển hoặc hồ ao sông ngòi, trung du, miển núi hoặc đồng bằng, ở những khu dân cư thưa thớt hoặc thành thị …) tại tất cả những nơi có ảnh hưởng của chiến tranh.

4. Kết quả của công việc DTXLBMVN và quá trình tổ chức thực hiện có quan hệ trực tiếp đến an toàn tính mạng con người, tài sản, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Điều 2. Yêu cầu của công tác dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ

1. Những người làm nhiệm vụ DTXLBMVN phải có tinh thần trách nhiệm cao, tuyệt đối chống tư tưởng chủ quan đơn giản, triệt để tuân thủ Quy trình kỹ thuật, không được làm tắt hoặc bỏ qua các bước. Không được chạy theo năng suất đơn thuần dẫn tới làm dối, làm ẩu, để sót bom-mìn-vật nổ; xảy ra mất an toàn trong khi thi công DTXLBMVN, trong suốt quá trình xây dựng và sử dụng lâu dài của công trình sau này.

2. Các loại máy, khí tài, trang bị dùng cho nhiệm vụ DTXLBMVN phải đủ số lượng, đảm bảo chất lượng. Phải thường xuyên kiểm tra, kiểm định tình trạng kỹ thuật, phải thay thế ngay các chi tiết và bộ phận không bảo đảm đúng yêu cầu kỹ thuật và thiếu đồng bộ (việc kiểm định sẽ do đơn vị được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ thực hiện).

3. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phải thường xuyên kiểm tra chất lượng các trang thiết bị dò tìm, kiểm tra trình độ chuyên môn của các nhân viên kỹ thuật kiểm tra chất lượng công trình, kiểm tra việc chấp hành các quy tắc an toàn để kịp thời loại trừ những sai sót. Phải định kỳ kiểm tra theo phương pháp xác suất, thông thường diện tích kiểm tra không ít hơn 1% tổng số diện tích đã DTXLBMVN.

Điều 3. Tiêu chuẩn phân đội dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ

1. Người chỉ huy phân đội DTXLBMVN:

a) Phải là người có năng lực, có hiểu biết sâu về lĩnh vực bom-mìn-vật nổ, được đào tạo cơ bản để chuyên môn kỹ thuật tại Trường sỹ quan Công binh hoặc đã qua lớp đào tạo đội trưởng tại các đơn vị, nhà trường và được Binh chủng Công binh cấp chứng chỉ.

b) Phải là người có kinh nghiệm thực tiễn ít nhất 2 năm trực tiếp làm công tác tổ chức, chỉ huy thi công dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ; nắm chắc quy trình kỹ thuật, tính năng cấu tạo và nguyên lý hoạt động của các loại bom-mìn-vật nổ quy tắc an toàn; hiểu biết và sử dụng thành thạo các thiết bị dò tìm.

c) Phải là người nghiêm khắc, quyết đoán, thận trọng, có tinh thần trách nhiệm cao, có bản lĩnh vững vàng trong tổ chức, chỉ huy và xử lý các tình huống.

d) Chịu trách nhiệm trước cấp trên và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động DTXLBMVN của đơn vị mình.

2. Nhân viên chuyên môn kỹ thuật làm nhiệm vụ DTXLBMVN phải:

a) Là nam giới, được tuyển chọn chặt chẽ, đúng tiêu chuẩn chính trị, có phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần dũng cảm, tâm lý vững vàng, ổn định, ý thức tổ chức, kỷ luật tốt, có tinh thần trách nhiệm cao, có sức khỏe tốt và tác phong công tác thận trọng tỷ mỷ.

b) Được huấn luyện thành thạo về chuyên môn kỹ thuật: nắm chắc về tính năng, cấu tạo, nguyên lý hoạt động của các loại bom-mìn-vật nổ thông thường; nắm chắc quy trình kỹ thuật, quy tắc an toàn trong DTXLBMVN; nắm chắc tính năng kỹ thuật, sử dụng thành thạo các loại máy, trang bị chuyên dùng; được cấp chứng chỉ đã qua lớp huấn luyện chuyên môn kỹ thuật DTXLBMVN do Binh chủng Công binh hoặc đơn vị được Binh chủng Công binh ủy quyền cấp.

3. Phân đội làm nhiệm vụ DTXLBMVN phải:

a) Được tổ chức biên chế chặt chẽ, đủ quân số, đủ trang bị kỹ thuật, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ (biên chế, trang bị có quy định riêng).

b) Có đủ các trang bị bảo hộ lao động và trang bị phòng chống cháy, nổ.

4. Nếu đơn vị làm nhiệm vụ DTXLBMVN nào vi phạm các tiêu chuẩn trên mà cơ quan hoặc đơn vị được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ kiểm tra phát hiện được sẽ bị đình chỉ thi công. Nếu phát hiện đơn vị nào vi phạm từ 3 lần trở lên khi có đề nghị của Bộ Tư lệnh Công binh, Bộ sẽ thu hồi giấy phép hành nghề DTXLBMVN.

Điều 4. Phân loại mật độ tín hiệu bom-mìn-vật nổ

1. Các khái niệm:

a) Tín hiệu: Là tất cả các loại vật thể nhiễm từ (hoặc không nhiễm từ) nằm trong đất hoặc dưới nước gồm sắt, thép, mảnh bom đạn, các loại bom-mìn-vật nổ … mà con người hoặc các loại máy đò đang dùng hiện nay có thể phát hiện được (thể hiện bằng sự thay đổi âm thanh, làm lệch kim đồng hồ chỉ thị, bằng các loại vạch hoặc số trên màn hình tinh thể lỏng bất kể ở mức độ lớn hay nhỏ …) phải tiến hành xử lý. Tín hiệu để tính toán lập phương án thi công và dự toán (sau khi đã tiến hành khảo sát thực địa) phải là các loại bom-mìn-vật nổ hoặc vật nhiễm từ … có kích thước từ (30 x 30)mm trở lên nằm dưới mặt đất.

b) Mật độ tín hiệu: Là số lượng tín hiệu phải đào và xác định chủng loại để tiến hành xử lý, được tính trung bình trên một đơn vị diện tích nhất định (mật độ tín hiệu các loại có quan hệ trực tiếp đến phương án, kế hoạch tổ chức thi công và dự toán chi phí cho việc DTXLBMVN).

2. Các khu vực là bãi mìn:

a) Là các khu vực có bố trí nhiều mìn theo một quy cách nhất định. Các khu vực là bãi mìn chủ yếu đều nằm ở vành đai biên giới phía Bắc và phía Tây Nam, quanh các kho, các căn cứ quân sự cũ của Mỹ ngụy.

b) Bảng phân loại bãi mìn:

Đơn vị tính: 10.000m2

STT

Phân loại bãi mìn

Số lượng tín hiệu

Số lượng bom-mìn-vật nổ

1

Bãi loại 1

Từ 0 > đến 150

Từ 1 > quả đến ≤ 50 quả

2

Bãi loại 2

Từ > 150 đến 300

Từ > 50 quả đến ≤ 100 quả

3

Bãi loại 3

Từ > 300 đến 450

Từ > 100 quả đến ≤ 150 quả

4

Bãi loại 4

Từ > 450 đến 600

Từ > 150 quả đến ≤ 200 quả

5

Bãi loại đặc biệt

Từ > 600

Từ > 200 quả

3. Các khu vực không phải là bãi mìn:

a) Là các khu vực hiện có các loại bom-mìn-vật nổ chưa nổ ở các mức độ khác nhau còn sót lại sau chiến tranh, trong đó có lẫn cả các mảnh bom đạn hoặc sắt thép vụn. Khi tiến hành xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở, khôi phục sản xuất, phải tiến hành việc DTXLBMVN. Các loại bom-mìn-vật nổ thường nằm ở độ sâu tới 5m dưới mặt đất tự nhiên, cá biệt có nơi tới 10 đến 15m.

b) Bảng phân loại mật độ tín hiệu (khu vực không phải là bãi mìn):

 

Đơn vị tính: 10.000m2

TT

Mật độ tín hiệu

Số lượng tín hiệu

Tỷ lệ bom-mìn-vật nổ

1

Loại 1

Từ > 0 đến 100 tín hiệu

Từ  > 0 đến ≤ 3% tổng số tín hiệu

2

Loại 2

Từ > 100 đến 200 tín hiệu

Từ  > 3 đến ≤ 5% tổng số tín hiệu

3

Loại 3

Từ > 200 đến 300 tín hiệu

Từ  > 5 đến ≤ 7% tổng số tín hiệu

4

Loại 4

Từ > 300 đến 400 tín hiệu

Từ  > 7 đến ≤ 9% tổng số tín hiệu

5

Loại đặc biệt

Từ > 400 tín hiệu

> 9% tổng số tín hiệu

c) Phân loại mật độ tín hiệu áp dụng đối với từng khu vực:

- Dò tìm và xử lý bom-mìn-vật nổ trên cạn

Đơn vị tính: 10.000m2

STT

Phân loại khu vực

Số lượng tín hiệu (tín hiệu)

Đến độ sâu 0,3m

Từ > 0,3 đến 3m

Từ > 3m đến 5m

1

Khu vực 1

Từ > 0 đến 95

Từ > 0 đến 4

Từ > 0 đến 1

2

Khu vực 2

Từ > 0 đến 190

Từ > 0 đến 8

Từ > 0 đến 2

3

Khu vực 3

Từ > 0 đến 285

Từ > 0 đến 12

Từ > 0 đến 3

4

Khu vực 4

Từ > 0 đến 380

Từ > 0 đến 16

Từ > 0 đến 4

5

Đặc biệt

Từ > 380 trở lên

Từ > 16 trở lên

Từ > 4 trở lên

- Dò tìm và xử lý bom-mìn-vật nổ dưới nước.

Đơn vị tính: 10.000m2

STT

Phân loại khu vực

Số lượng tín hiệu (tín hiệu)

Đến độ sâu 0,5m

Từ > 0,5 đến 1m

Độ sâu > 1m

1

Khu vực 1

Từ > 0 đến 48

Từ > 0 đến 2

Từ > 0 đến 0,2

2

Khu vực 2

Từ > 0 đến 96

Từ > 0 đến 4

Từ > 0 đến 0,5

3

Khu vực 3

Từ > 0 đến 143

Từ > 0 đến 6

Từ > 0 đến 1

4

Khu vực 4

Từ > 0 đến 190

Từ > 0 đến 8

Từ > 0 đến 2

5

Đặc biệt

Từ > 190 trở lên

Từ > 8 trở lên

Từ > 2 trở lên

d) Phân loại các khu vực mật độ tín hiệu

STT

Phân loại

Tên địa phương (từ huyện, thị xã trở lên)

1

Khu vực 4

Vùng ven biên giới Việt – Trung (5km tính từ mép biên giới vào nội địa nước ta); tỉnh Quảng Trị: tất cả các huyện, thị xã thuộc tỉnh; tỉnh Thừa Thiên Huế: huyện Phong Điền và Hương Thủy.

2

Khu vực 3

Tỉnh Nghệ An: Kỳ Sơn, Đô Lương, Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, TP Vinh; tỉnh Hà Tĩnh: tất cả các huyện và thị xã trừ huyện Thạch Hà; tỉnh Quảng Bình: tất cả các huyện trừ thị xã Đồng Hới; tỉnh Thừa Thiên Huế: tất cả các huyện và thành phố còn lại.

3

Khu vực 2

Nội thành các thành phố, thị xã: Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Giang, Thái Nguyên, Thanh Hóa; tỉnh Nghệ An: tất cả các huyện, thị xã còn lại; tỉnh Hà Tĩnh: huyện Thạch Hà; tỉnh Quảng Bình: thị xã Đồng Hới; TP Đà Nẵng: tất cả các quận, huyện trừ quận Ngũ Hành Sơn; tỉnh Quảng Nam: tất cả các huyện, thị xã trừ thị xã Hội An và huyện Trà My; tỉnh Quảng Ngãi: tất cả các huyện và thị xã; tỉnh Ninh Thuận: tất cả các huyện và thị xã trừ huyện Ninh Hải; tỉnh Kon Tum: tất cả các huyện và thị xã; tỉnh Đắc Lắc: các huyện MaĐrăk, Đắk RLấp, Krông Bông, Buôn Đôn; tỉnh Gia Lai: Thành phố Pleiku, huyện IaGrai, Chư Prông; tỉnh Đồng Nai: huyện Nhơn Trạch; TP Hồ Chí Minh: huyện Củ Chi, Cần Giờ; tỉnh Long An: tất cả các huyện trừ thị xã Tân An, huyện Cần Giuộc và Thạnh Hóa; tỉnh Bình Thuận: huyện Tuy Phong, Tánh Linh, Hàm Tân; tỉnh Bình Dương: huyện Bến Cát; tỉnh Tây Ninh: huyện Bến Cầu, Tân Biên và Tân Châu; tỉnh Cần Thơ: huyện Châu Thành, Thốt Nốt, TP Cần Thơ, TX Vị Thanh; tỉnh Tiền Giang: huyện Gò Công, Chợ Gạo, Mỹ Tho, Châu Thành, TX Gò Công; tỉnh Sóc Trăng: TX Sóc Trăng, huyện Mỹ Tú, Long Phú, Kế Sách; tỉnh Kiên Giang: huyện Châu Thành; tỉnh Cà Mau: TX Cà Mau. huyện Trần Văn Thời, Ngọc Hiển, Đầm Dơi, Cái Nước; tỉnh Trà Vinh: TX Trà Vinh; tỉnh Vĩnh Long: huyện Mang Thít, Long Hồ, Vũng Liêm, TX Vĩnh Long; tỉnh Đồng Tháp: TX Sa Đéc; tỉnh Bạc Liêu: TX Bạc Liêu.

4

Khu vực 1

Tất cả các khu vực còn lại ngoài các địa phương thuộc các khu vực 2, 3, 4 trên địa bàn cả nước.

4. Các khu vực đặc biệt:

a) Là các khu vực dùng làm bãi hủy bom, đạn: các kho bom, đạn đã từng bị nổ nhiều lần; quanh các căn cứ, đồn bốt, trận địa cũ của Mỹ ngụy; một số khu vực thuộc vành đai biên giới phía Bắc có bố trí chồng lấn nhiều lớp mìn.

b) Đối với các khu vực đặc biệt phải tiến hành lập phương án và dự toán DTXLBMVN riêng cho từng khu vực cụ thể.

Điều 5. Diện tích, độ sâu và hành lang an toàn trong dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ

1. Diện tích phải dò tìm bom-mìn-vật nổ: căn cứ vào yêu cầu của từng công trình cụ thể, vào tính năng của máy và yêu cầu bảo đảm an toàn cho các công trình, sẽ bao gồm các diện tích sau:

a) Diện tích mặt bằng sử dụng của công trình bao gồm toàn bộ hoặc một phần diện tích được giao quyền sử dụng (căn cứ vào số liệu khảo sát và các tài liệu được cung cấp về tình hình ô nhiễm bom-mìn-vật nổ).

b) Diện tích hành lang an toàn được quy định cụ thể của từng công trình có xét đến tầm quan trọng của công trình.

c) Đối với các khu vực địa hình không bằng phẳng (có độ dốc) thì diện tích cần dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ thì được tính theo mặt dốc của địa hình.

2. Độ sâu cần dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ: căn cứ vào tính năng tác dụng và khả năng xuyên sâu của các loại bom-mìn-vật nổ, mục đích sử dụng để xác định độ sâu cần DTXLBMVN.

a) Dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ đến độ sâu 30 cm, áp dụng cho tất cả các dự án phục vụ việc khai hoang, phục hóa đất canh tác, bảo đảm an toàn trước mắt cho nhân dân.

b) Dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ đến độ sâu 3m, áp dụng cho các dự án tái định cư, xây dựng nhà ở cao dưới 10m, kênh mương thủy lợi, hồ chứa nước, nạo vét luồng lạch có độ sâu nạo vét dưới 3m. Các dự án giao thông cấp thấp như đường giao thông đến cấp 3, các tuyến huyện lộ, giao thông nông thôn.

c) Dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ đến độ sâu 5m, áp dụng cho các dự án xây dựng dân dụng có chiều cao lớn hơn 10m, xây dựng công nghiệp, xây dựng giao thông cấp cao như Quốc lộ, tỉnh lộ …

d) Dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ đến độ sâu lớn hơn 5m, áp dụng cho các công trình có tầm quan trọng đặc biệt, những nơi có đánh dấu bom chưa nổ nhưng không phát hiện được khi đã dò tìm đến độ sâu 5m.

3. Hành lang an toàn phải DTXLBMVN để bảo đảm an toàn cho thi công xây dựng công trình (bằng thủ cổng và các thiết bị cơ giới) sau khi kết thúc công việc DTXLBMVN: là khoảng cách trên bề mặt tính từ mép ngoài công trình đến mép ngoài của khu vực cần DTXLBMVN. Mục đích là bảo đảm không làm nổ bom-mìn-vật nổ còn sót lại sau chiến tranh nằm ngoài khu vực này do tác động của các thiết bị, máy móc khi đang tiến hành thi công công trình. Chiều rộng của dải hành lang an toàn xác định căn cứ vào loại, tầm quan trọng cũng như quy mô của công trình. Cụ thể:

a) Các dự án khai hoang, phục hóa, tái định cư: 5m tính từ mép chu vi đường biên ra phía ngoài.

b) Các dự án XD dân dụng, công nghiệp: 7m (công trình đặc biệt đến 10m) tính từ mép chu vi đường biên ra phía ngoài.

c) Đường giao thông cấp thấp (từ cấp 5 trở xuống): 5m tính từ mép trên ta luy đào, chân ta luy đắp hoặc mép ngoài rãnh dọc ra phía ngoài về mỗi bên.

d) Đường giao thông cấp trung bình (từ cấp 2 đến cấp 4): 7m tính từ mép trên ta luy đào, chân ta luy đắp hoặc mép ngoài rãnh dọc ra phía ngoài về mỗi bên.

e) Đường giao thông cấp cao, đường ra vào các cầu lớn: 10m tính từ mép trên ta luy đào, chân ta luy đắp hoặc mép ngoài rãnh dọc ra phía ngoài về mỗi bên

f) Cầu, cửa hầm giao thông, bến cảng: 50m; cầu nhỏ, cống qua đường: 20m; công trình đặc biệt: 100m (tính từ mép công trình ra phía ngoài về 4 phía).

g) Luồng đường biển: 25m (với luồng đặc biệt: 50m) tính từ mép trên ta luy đào của luồng ra phía ngoài về mỗi bên.

h) Luồng đường sông, kênh mương thủy lợi: 15m (đặc biệt: 30m) tính từ mép trên ta luy đào của luồng hoặc kênh ra phía ngoài về mỗi bên.

i) Tuyến đường cáp quang, cáp thông tin, cáp điện ngầm: 3m (trường hợp thi công bằng máy), 1,5m (trường hợp thi công bằng thủ công) tính từ tim tuyến ra phía ngoài về mỗi bên.

k) Tuyến đường ống dẫn nước, dầu, khí Ø < 20cm: 5m tính từ mép trên ta luy đào, chân ta luy đắp ra phía ngoài về mỗi bên.

m) Tuyến đường ống dẫn nước, dầu, khí Ø ≥ 20cm: 10m tính từ mép trên ta luy đào, chân ta luy đắp ra phía ngoài về mỗi bên.

n) Kè bờ sông, biển: 5m tính từ mép ngoài cùng hố móng ra phía ngoài về mỗi bên.

p) Lỗ khoan khảo sát địa chất: bán kính là 20m tính từ tim lỗ ra xung quanh.

q) Lỗ khoan khai thác nước, khai thác dầu mỏ: bán kính là 50m tính từ tim lỗ ra xung quanh.

4. Hành lang cần DTXLBMVN để bảo đảm an toàn cho sử dụng sau này của công trình: là khoảng cách trên bề mặt tính từ mép ngoài, công trình đến mép ngoài của khu vực cần DTXLBMVN. Mục đích bảo đảm an toàn tuyệt đối cho thi công xây dựng và sử dụng lâu dài sau này của công trình, khi có bom-mìn-vật nổ chưa nổ còn sót lại sau chiến tranh ngoài phạm vi này bị nổ do các nguyên nhân tự nhiên hay có sự tác động bên ngoài sẽ không làm hư hỏng công trình hoặc gây thương vong cho người trong công trình. Chiều rộng của dải hành lang an toàn được xác định căn cứ vào loại tầm quan trọng cũng như quy mô của công trình.

a) Bảng tính sẵn dải hành lang an toàn cho sử dụng sau này của công trình.

Số TT

Loại bom, đạn hiện có tại khu vực lân cận

Hành lang an toàn (m)

Ghi chú

Nổ trên mặt đất

Nổ dưới mặt đất

1

> 0 đến 250 bảng

994

331

Cửa kính của công trình sẽ XD không bị vỡ khi bom nổ

2

> 250 đến 1000 bảng

2.810

937

3

> 1000 đến 3000 bảng

4.332

1.441

b) Phạm vi áp dụng: việc áp dụng phạm vi dải hành lang an toàn phải căn cứ vào tầm quan trọng của từng công trình cụ thể, căn cứ vào chủng loại bom-mìn-vật nổ có trong khu vực qua số liệu khảo sát. Chủ đầu tư và đơn vị chịu trách nhiệm khảo sát lập phương án và dự toán thi công DTXLBMVN sẽ bàn bạc và thống nhất để quyết định.

Chương 2.

CÔNG TÁC CHUẨN BỊ

Điều 6. Khảo sát, thu thập các số liệu, đánh dấu phạm vi dò tìm xử lý bom-mìn-vật nổ

1. Điều tra thu thập qua các tài liệu hồ sơ lưu trữ, qua chính quyền và lực lượng vũ trang quản lý địa bàn, qua nhân dân địa phương, về đặc điểm tình hình bom-mìn-vật nổ như: việc bố trí, thủ đoạn bố trí, mức độ đánh phá, chủng loại, tính chất bom-mìn-vật nổ mà các lực lượng (cả ta và địch) đã sử dụng trong khu vực sẽ thi công DTXLBMVN.

2. Từ các tài liệu được cung cấp hoặc giao nhận trên thực địa, trên bản đồ tiến hành đóng một số cọc mốc bằng bê tông cốt thép đánh dấu ranh giới. Vẽ sơ đồ khu vực.

3. Tiến hành khảo sát tại thực địa:

a) Khảo sát xác định mật độ tín hiệu toàn khu vực bằng cách tiến hành DTXLBMVN theo đúng các bước của quy trình tại một số vị trí thường có kích thước (20 x 20)m mang tính chất đại diện cho từng loại địa hình với tổng diện tích các điểm khảo sát phải chiếm ít nhất 1% tổng diện tích toàn bộ khu vực cần DTXLBMVN.

b) Khảo sát xác định cấp rừng, địa hình, cấp đất, độ nhiễm từ của đất, thời tiết, khí hậu, thủy văn; tình hình An ninh – chính trị, tình hình dân cư khu vực, tìm vị trí trú quân làm nhiệm vụ …

Điều 7. Lập phương án thi công dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ

1. Phương án thi công phải thể hiện rõ: nhiệm vụ chung, địa điểm tình hình có liên quan đến thực hiện nhiệm vụ: khối lượng thi công cụ thể, biện pháp tổ chức thi công, giải pháp kỹ thuật, tiến độ thi công; công tác bảo đảm; kiến nghị.

2. Biện pháp thi công phải căn cứ vào tình hình thực tế của khu vực, địa hình, mật độ tín hiệu, yêu cầu nhiệm vụ để xác định sẽ tiến hành tất cả các bước hay chỉ tiến hành một số bước hoặc DTXLBMVN thành nhiều lớp trên cùng một diện tích (với các loại bãi đặc biệt) của quy trình này.

3. Phương án thi công phải kèm theo: thông báo tình hình bom-mìn-vật nổ của cơ quan quân sự cấp tỉnh trở lên, các văn bản khảo sát, các bản vẽ mặt bằng thi công DTXLBMVN, thể hiện rõ ranh giới thi công, diện tích và độ sâu DTXLBMVN tương ứng.

4. Đối với các khu vực có địa hình và mật độ tín hiệu bom-mìn-vật nổ thuộc diện đặc biệt như: vùng đất bị nhiễm từ, vùng có kho bom, đạn bị đánh phá nhiều lần, khu vực trước kia là bãi chôn tạm thời bom-mìn-vật nổ của địa phương khi tiến hành dò tìm bom-mìn-vật nổ để khai hoang phục hóa sau giải phóng, khu vực có các loại bom đạn chứa các chất hóa học, chất độc … thì phương án thi công phải có giải pháp kỹ thuật phù hợp, sát thực.

5. Phương án DTXLBMVN phải có chữ ký của người lập phương án, chỉ huy đơn vị. Phương án sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt mới được triển khai thực hiện.

Chương 3.

DÒ TÌM, XỬ LÝ BOM–MÌN–VẬT NỔ TRÊN CẠN

Điều 8. Khoanh khu vực dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ

1. Căn cứ vào các mốc đã đánh dấu khi khảo sát, tiến hành mở đường bao rộng 4 đến 6m chạy xung quanh toàn bộ khu vực để triển khai dò tìm, đi lại, vận chuyển vật tư khí tài và cách ly khu vực DTXLBMVN với xung quanh để chống cháy lan khi phải dùng biện pháp dọn mặt bằng phương pháp đốt.

2. Kiểm tra, phát dọn mặt bằng và tiến hành DTXLBMVN tại phạm vi đường bao theo đúng kỹ thuật được ghi trong các điều từ 9 đến 13 của quy trình này nhằm bảo đảm an toàn cho tiến hành các bước tiếp theo.

Điều 9. Thứ tự các bước khi dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ trên cạn

1. Khu vực có bãi mìn:

a) Dọn mặt bằng bằng thủ công hoặc bằng thủ công kết hợp đốt bằng xăng dầu hoặc phá hàng rào thép gai bằng thuốc nổ.

b) Dò tìm, xử lý bằng thủ công đến độ sâu 7cm.

c) Kiểm tra, phá hủy tại chỗ bom-mìn-vật nổ đến độ sâu 7cm (nếu có).

d) Dò tìm bằng máy dò mìn đến độ sâu 30 cm.

e) Đào kiểm tra, xử lý tín hiệu đến độ sâu 30 cm.

f) Dò tìm bằng máy dò bom ở độ sâu từ 0,3m đến 3m hoặc đến 5 m.

g) Đào đất kiểm tra, xử lý tín hiệu đến độ sâu 3m.

h) Đào đất kiểm tra, xử lý tín hiệu đến độ sâu 5m.

i) Dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ ở các độ sâu lớn hơn 5m.

2. Khu vực không phải là bãi mìn:

a) Dọn mặt bằng bằng thủ công hoặc thủ công kết hợp đốt bằng xăng dầu.

b) Dò tìm bằng máy dò mìn đến độ sâu 30 cm.

c) Đào kiểm tra, xử lý tín hiệu đến độ sâu 30 m.

d) Dò tìm bằng máy dò bom ở độ sâu từ 0,3m đến 3m hoặc đến 5 m.

e) Đào đất kiểm tra, xử lý tín hiệu đến độ sâu 3m.

f) Đào đất kiểm tra, xử lý tín hiệu đến độ sâu 5m.

g) Dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ ở các độ sâu lớn hơn 5m.

Điều 10. Dọn mặt bằng

1. Nội dung công việc: phát dọn sạch dây leo, cỏ rác, cây cối nhỏ có đường kính từ 10cm trở xuống, gốc cây còn lại không cao quá 5cm (với cây có đường kính > 10cm chỉ được chặt phá khi có tín hiệu phải xử lý nằm dưới gốc cây), các chướng ngại vật trên toàn bộ mặt bằng và đưa ra khỏi phạm vi thi công DTXLBMVN. Kiểm tra, xử lý thu dọn sạch tín hiệu trên mặt đất.

2. Dọn mặt bằng bằng thủ công:

a) Phạm vi áp dụng: tất cả các loại địa hình như: đồng bằng, trung du, rừng núi, đầm lầy và rừng ngập mặn ven biển.

b) Trang bị gồm: dao phát và các loại dụng cụ làm tay khác, các loại khí tài kiểm tra bom-mìn-vật nổ, cọc tiêu, biển báo.

c) Thứ tự công việc:

- Đóng cọc chia nhỏ khu vực thành các ô có các kích thước (25x25)m hoặc (50x50)m tùy theo địa hình khu vực (hoặc chiều dài 25m, chiều rộng tùy theo chiều rộng của khu vực dò tìm khi thi công DTXLBMVN những dải hẹp).

- Phát dọn sạch cây cối, các chướng ngại vật theo đúng yêu cầu kỹ thuật và đưa ra khỏi phạm vi khu vực DTXLBMVN (khu vực là bãi mìn thì việc phát dọn bề mặt được thực hiện đồng thời với việc dò tìm đến độ sâu 7cm).

3. Dọn mặt bằng bằng thủ công kết hợp đốt bằng xăng, dầu:

a) Phạm vi áp dụng: chỉ áp dụng cho các khu vực có hoặc không có bãi mìn nhưng có cây cối, lau lách và dây leo rất rậm rạp khi được cơ quan có thẩm quyền quản lý rừng cho phép.

b) Trang bị gồm: dao phát và các loại dụng cụ làm tay khác, các loại khí tài kiểm tra bom-mìn-vật nổ, cọc tiêu, biển báo, xăng dầu và các dụng cụ phun xăng dầu.

c) Thứ tự công việc:

- Phát dọn cây cối mở các đường có chiều rộng từ 2 đến 3m để chia các ô có các kích thước (25x25)m hoặc (50x50)m tùy theo địa hình khu vực (hoặc chiều dài 25m hay 50m còn chiều rộng tùy theo bề ngang tối đa của khu vực dò tìm khi thi công DTXLBMVN tại những dải hành lang hẹp).

- Phun xăng, dầu đốt hết cây cối rậm rạp trong từng ô vào các thời điểm thích hợp.

- Phát dọn cây cối, chứng ngại vật và đưa ra ngoài khu vực cần DTXLBMVN trong từng ô (công việc này được tiến hành đồng thời với bước DTXLBMVN đến độ sâu 7cm hoặc 30cm). Động tác dò tìm bằng thuốn và bằng máy theo đúng kỹ thuật được quy định trong điều 10, 11, 12 và 13 của Quy trình này.

3. Dọn mặt bằng bằng thủ công kết hợp với thuốc nổ:

a) Áp dụng cho các khu vực là bãi mìn, có hàng rào dây thép gai và cây cối, lau lách, dây leo rậm rạp.

b) Trang bị và vật tư chủ yếu gồm: dao phát và các loại dụng cụ làm tay, các loại khí tài kiểm tra bom-mìn-vật nổ, cọc tiêu, biển báo, thuốc nổ, hóa cụ, khí tài gây nổ và các vật tư khác.

c) Thứ tự công việc:

- Quan sát, kiểm tra, dùng lượng nổ dài để phá hàng rào; mở đường phụ có chiều rộng từ 2 đến 3m làm đường công vụ, đóng cọc chia nhỏ khu vực thành các ô có các kích thước (25x25)m hoặc (50x50)m tùy theo địa hình khu vực (hoặc chiều dài 25m hay 50m còn chiều rộng tùy theo bề ngang tối đa của khu vực dò tìm khi thi công DTXLBMVN tại những dải hành lang hẹp).

- Phát dọn hết cây cối, chướng ngại vật sau khi đốt và đưa ra ngoài khu vực cần DTXLBMVN trong từng ô (công việc này được tiến hành đồng thời với bước DTXLBMVN đến độ sâu 7cm hoặc 30 cm tại cùng một thời điểm đứng). Động tác dò tìm bằng thuốn và bằng máy theo đúng kỹ thuật được quy định trong điều 11, 12, 13, và 14 của Quy trình này.

Điều 11. Dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ bằng thủ công đến độ sâu 7cm

1. Phạm vi áp dụng: các khu vực là bãi mìn, có các loại mìn nhạy nổ, mìn vướng nổ, các loại mìn nhựa mà các loại máy dò hiện nay khó phát hiện được và các khu vực là bãi mìn có lẫn nhiều vật nhiễm từ mà không sử dụng máy được.

2. Trang bị: các loại dây chuyên dùng đánh dấu đường dò, thuốn, dao phát, dao găm, xẻng, các loại chốt an toàn, cờ đuôi nheo nhỏ màu đỏ và trắng, dụng cụ thu gom …

3. Thứ tự công việc:

a) Từ đường chia ô dò, dùng cờ đuôi nheo trắng đánh dấu phạm vi đường dò (rộng từ 1 đến 1,5m), DTXLBMVN đến đâu đánh dấu đến đấy (cứ 1,5m đánh dấu một cờ). Chỉ cần cắm cờ đánh dấu đường biên dải dò thứ nhất, đến các dải dò sau thì được phép rút cờ của biên dải dò thứ nhất tiếp giáp cắm tiếp sang biên phía chưa dò theo kiểu cuốn chiếu.

b) Dùng thuốn kết hợp với quan sát bằng mắt thường, thuốn theo đúng yêu cầu kỹ thuật từ trái qua phải từ gần đến xa và ngược lại. Động tác thuốn phải đúng kỹ thuật cơ bản (mũi thuốn nghiên một góc 300 đến 400 so với mặt đất tự nhiên, thuốc theo hình hoa mai các mũi thuốn cách nhau 3 đến 5cm, sâu từ 7 đến 10cm).

c) Khi phát hiện tín hiệu tiến hành thuốn kiểm tra xác định tín hiệu, sau đó tiến hành đào kiểm tra tín hiệu theo đúng kỹ thuật cơ bản. Nếu tín hiệu không phải là bom-mìn-vật nổ thì thu gom về nơi quy định; nếu tín hiệu là bom-mìn-vật nổ thì xử lý an toàn, thu gom về nơi quy định; nếu tín hiệu là bom-mìn-vật nổ không an toàn hoặc vật nổ lạ thì đánh dấu bằng cờ đỏ chờ xử lý riêng.

d) Nếu có nhiều người cùng dò tìm trong một khu vực diện tích thì khoảng cách giữa 2 người gần nhau nhất phải ≥ 15m (lớn hơn bán kính nguy hiểm lớn nhất của các loại bom-mìn-vật nổ có trong khu vực căn cứ vào kết quả khảo sát).

Điều 12. Kiểm tra, phá hủy bom-mìn-vật nổ tại chỗ đến độ sâu 7cm

1. Phạm vi áp dụng: bom-mìn-vật nổ phát hiện được nhưng không an toàn cho thu gom, vận chuyển.

2. Trang bị: thuốn, dao găm, xẻng, thuốc nổ, hỏa cụ và khí tài gây nổ.

3. Thứ tự công việc:

a) Dùng lượng nổ tập trung đặt trực tiếp vào vật nổ cần hủy, lượng nổ để hủy phải căn cứ vào từng loại bom-mìn-vật nổ để tính toán theo công thức do Binh chủng Công binh quy định trong Điều lệ công tác nổ.

b) Sau khi đã hủy xong, phải kiểm tra lại để bảo đảm hết bom-mìn-vật nổ. Trường hợp còn sót bom-mìn-vật nổ thì phải tiến hành xử lý tiếp như thứ tự đã nêu trên.

c) Kiểm tra, thu gom các loại khí tài gây nổ và các mảnh vụn (nếu có) ra khỏi khu vực thi công DTXLBMVN.

Điều 13. Dò tìm bằng máy dò mìn đến độ sâu 30 cm

1. Phạm vi áp dụng: đối với các bãi mìn, sau khi đã DTXLBMVN đến độ sâu 7cm. Đối với các khu vực không phải là bãi mìn.

2. Trang bị: máy dò mìn, thuốn, cờ đuôi nheo nhỏ màu đỏ và trắng, cọc gỗ, dây chuyên dùng để đánh dấu đường dò.

3. Thứ tự công việc:

a) Cắm cọc căng dây đánh dấu dải dò, mỗi dải dò rộng từ 1 đến 1,5m.

b) Dùng máy dò mìn tiến hành dò theo đúng yêu cầu kỹ thuật. Dò từ trái sang phải và ngược lại, vệt dò sau phải trùm lên 1/3 vệt dò trước, đường dò sau phải lấn sang đường dò trước từ 10 đến 20cm.

c) Khi máy dò chỉ thị có tín hiệu, người dò phải dò thành vệt chữ thập để xác định vị trí tâm tín hiệu, dùng cờ đỏ đánh dấu sát bên cạnh tâm tín hiệu.

d) Khi có nhiều máy dò cùng hoạt động trên một khu vực thì các máy phải cách nhau ít nhất 7m để tránh gây nhiễu lẫn nhau.

Điều 14. Đào kiểm tra, xử lý tín hiệu đến độ sâu 30cm

1. Phạm vi áp dụng: đối với tất cả các tín hiệu đã đánh dấu.

2. Trang bị: máy dò, thuốn, xẻng nhỏ, dao găm, các loại chốt an toàn, thuốc nổ, hỏa cụ và khí tài gây nổ, dụng cụ thu gom.

3. Thứ tự công việc:

a) Dùng máy dò mìn, thuốn kiểm tra lại vị trí đã đánh dấu tín hiệu. Dùng xẻng nhỏ đào hố có miệng rộng khoảng 0,5 đến 0,6m (tùy theo độ lớn của tín hiệu), thận trọng bóc dần từng lớp đất từ trên xuống và từ mép vào tim hố, vừa đào vừa kiểm tra. Khi thấy tín hiệu thì dùng dao găm để bới đất xung quanh cho lộ hẳn vật gây tín hiệu.

b) Kiểm tra xác định vật gây tín hiệu: nếu không phải là bom-mìn-vật nổ thì thu gom về nơi quy định; nếu là bom-mìn-vật nổ thì xử lý an toàn, thu gom về nơi quy định; nếu là bom-mìn-vật nổ không an toàn cho thu gom, vận chuyển hoặc vật nổ lạ thì đánh dấu bằng cờ đỏ chờ xử lý riêng.

c) Sau khi đã xử lý xong tín hiệu cần phải dùng máy kiểm tra lại xung quanh và phía dưới tín hiệu vừa xử lý để đảm bảo sạch hết tín hiệu. Nếu còn tín hiệu thì phải tiến hành xử lý như thứ tự đã nêu trên.

Điều 15. Dò tìm bằng máy dò bom ở độ sâu từ 0,3m đến 3m hoặc đến 5m

1. Căn cứ vào yêu cầu về độ sâu cần dò tìm để đặt máy ở các nấc độ nhạy khác nhau. Nếu chỉ dò đến độ sâu 3m thì đặt máy làm việc ở nấc độ nhậy thấp, nếu dò đến độ sâu 5m thì đặt máy làm việc ở nấc độ nhậy cao. Dải dò nên chia theo hướng Bắc – Nam.

2. Phạm vi áp dụng: tất cả các khu vực có bom-mìn-vật nổ nằm ở độ sâu lớn hơn 0,3m sau khi đã DTXLBMVN ở độ sâu đến 0,3m tính từ mặt đất tự nhiên hiện tại trở xuống.

3. Trang bị: máy dò bom, cờ đỏ đánh dấu tín hiệu, cọc và dây chuyên dùng để đánh dấu đường dò (dây thừng).

4. Thứ tự công việc:

a) Chuẩn bị máy dò, kiểm tra xác định độ nhiễm từ của đất trong khu vực để điều chỉnh máy dò cho phù hợp.

b) Đóng cọc căng dây đánh dấu đường dò, mỗi đường dò cách nhau 1m.

c) Dùng máy dò bom tiến hành dò theo đúng yêu cầu kỹ thuật để phát hiện hết các tín hiệu đến độ sâu yêu cầu. Khi máy dò phát tín hiệu (bằng cách lệch kim đồng hồ hay thay đổi âm thanh …) để chỉ thị có tín hiệu nghi ngờ ở phía dưới, tiến hành dò rộng ra xung quanh vị trí nghi ngờ để xác định chính xác tâm tín hiệu, sau đó dùng cờ đỏ to cắm sát bên cạnh vị trí tâm tín hiệu đánh dấu để chờ đào và xử lý.

d) Nếu có trên 2 máy cùng dò tìm trong một khu vực diện tích thì khoảng cách giữa 2 máy gần nhau nhất phải ≥ 7m để tránh các máy gây nhiễu lẫn nhau.

Điều 16. Đào đất kiểm tra, xử lý tín hiệu đến độ sâu 3m (áp dụng cho yêu cầu DTXLBMVN tới các độ sâu đến 3m hoặc đến 5m)

1. Phạm vi áp dụng: đối với tất cả các tín hiệu đã đánh dấu.

2. Trang bị: máy dò bom, thuốn, xẻng nhỏ Công binh, dao găm, các loại chốt an toàn, thuốc nổ, hỏa cụ và khí tài gây nổ, dụng cụ thu gom. Khi làm tại các nơi có nước ngầm thì có thêm máy bơm nước.

3. Thứ tự công việc:

a) Chuẩn bị, kiểm tra và dùng dụng cụ làm tay thận trọng đào bới tại xung quanh vị trí tâm tín hiệu đã đánh dấu. Đào từ ngoài vào trong, kích thước hố đào rộng hẹp tùy theo độ lớn và độ sâu của tín hiệu (thông qua phán đoán khi kiểm tra bằng máy dò) để quyết định; khi gần tới vật gây tín hiệu phải đào thành từng lớp có độ dày nhỏ hơn 10cm, kết hợp máy dò và thuốn kiểm tra xung quanh vị trí tâm tín hiệu trước khi đào lớp tiếp theo cho đến khi lộ hẳn vật gây tín hiệu ra.

b) Kiểm tra xác định vật gây tín hiệu: nếu không phải là bom-mìn-vật nổ thì thu gom về nơi quy định; nếu là bom-mìn-vật nổ thì xử lý an toàn, thu gom về nơi quy định; nếu là bom-mìn-vật nổ không an toàn cho thu gom, vận chuyển hoặc vật nổ lạ thì đánh dấu bằng cờ đỏ chờ xử lý riêng.

c) Sau khi đã xử lý xong tín hiệu cần phải dùng máy kiểm tra lại xung quanh và phía dưới tín hiệu vừa để xử lý để đảm bảo sạch hết tín hiệu. Nếu còn tín hiệu thì phải tiến hành xử lý như thứ tự đã nêu trên.

Điều 17. Đào đất kiểm tra, xử lý tín hiệu đến độ sâu 5m

1. Đào đất kiểm tra, xử lý tín hiệu đến độ sâu 5m được thực hiện khi có yêu cầu DTXLBMVN đến độ sâu 5m và sau khi đã thực hiện xong bước đào đất kiểm tra, xử lý tín hiệu đến độ sâu 3m mà vẫn chưa đến vật gây tín hiệu.

2. Phạm vi áp dụng: đối với tất cả các tín hiệu đã đánh dấu sau khi đã thực hiện đào đất kiểm tra, xử lý xong các tín hiệu ở độ sâu từ 0,3m đến 3m.

3. Trang bị: máy dò bom, thuốn, xẻng nhỏ Công binh, dao găm, thuốc nổ, hỏa cụ và khí tài gây nổ, dụng cụ thu gom. Khi làm tại các nơi có nước ngầm thì có thêm máy bơm nước cùng các loại vật tư làm kè chắn sạt lở.

4. Thứ tự công việc:

a) Chuẩn bị, kiểm tra và dùng dụng cụ làm tay thận trọng đào bới tại xung quanh vị trí tâm tín hiệu đã đánh dấu. Đào từ ngoài vào trong, kích thước hố đào rộng hẹp tùy theo độ lớn và độ nằm sâu của tín hiệu (thông qua phán đoán khi kiểm tra bằng máy dò) để quyết định: khi gần tới vật gây tín hiệu phải đào thành từng lớp có độ dày nhỏ hơn 10cm, kết hợp máy dò và thuốn kiểm tra xung quanh vị trí tâm tín hiệu trước khi đào lớp tiếp theo cho đến khi lộ hẳn vật gây tín ra.

b) Kiểm tra xác định vật gây tín hiệu: nếu không phải là bom-mìn-vật nổ thì thu gom về nơi quy định; nếu là bom-mìn-vật nổ thì xử lý an toàn, thu gom về nơi quy định; nếu là bom-mìn-vật nổ không an toàn cho thu gom, vận chuyển hoặc vật nổ lạ thì đánh dấu bằng cờ đỏ chờ xử lý riêng.

c) Sau khi đã xử lý xong tín hiệu cần phải dùng máy kiểm tra lại xung quanh và phía dưới tín hiệu vừa xử lý để đảm bảo sạch hết tín hiệu. Nếu còn tín hiệu thì phải tiến hành xử lý như thứ tự đã nêu trên.

d) Căn cứ vào tình hình địa chất khu vực để có các biện pháp đánh bậc thang theo mái ta luy hay kè thành hố đào bằng gỗ để đề phòng đất sụt lở. Khi trời có mưa hoặc hố đào có nước ngầm phải dùng máy bơm để hút nước tạo điều kiện thuận lợi cho đào xử lý tín hiệu.

Điều 18. Dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ ở các độ sâu lớn hơn 5m

1. Căn cứ vào tính năng của đa số các loại máy dò hiện đang được sử dụng, việc DTXLBMVN ở các độ sâu lớn hơn 5m sẽ chỉ được tiến hành sau khi đã thực hiện DTXLBMVN xong ở các độ sâu 0,3m và 5m. Phải khoan lỗ để dò, mỗi lần khoan sẽ dò được độ sâu là 5m, mỗi lớp diện tích để tính dự toán và quyết toán có độ sâu là 5m, tùy theo yêu cầu để quyết định độ sâu khoan và số lần khoan.

2. Khi thực hiện DTXLBMVN ở độ sâu lớn hơn 5m thì phải lập phương án thi công riêng biệt và cụ thể đối với từng công trình (bằng phương pháp khoan lỗ để dò), phương án thi công phải phù hợp với yêu cầu và thực tế địa hình khu vực.

3. Các lỗ khoan được sắp xếp theo hình hoa mai với khoản cách giữa các lỗ khoan là 2m; chiều sâu lỗ khoan của mỗi lần khoan bằng độ sâu yêu cầu DTXLBMVN trừ đi độ sâu của một hoặc nhiều lần đã khoan lỗ và dò là 5m (số lớp khoan và số lần dò căn cứ vào độ sâu cần DTXLBMVN để quyết định). Đường kính lỗ khoan ≥ 105mm, thành lỗ khoan được bảo vệ bằng hệ thống ống nhựa hoặc vật liệu làm cứng thành lỗ.

4. Sau khi khoan lỗ xong tiến hành các bước DTXLBMVN theo thứ tự như DTXLBMVN trên cạn với phương pháp thả đầu dò vào trong lỗ khoan, ghi và phân tích các số liệu đo (bao gồm cả số liệu của các lỗ khoan lân cận) để phát hiện các tín hiệu. Việc đào và xử lý các tín hiệu theo thứ tự các bước như Điều 16 của quy trình này.

5. Chỉ được phép dò và khoan lần lượt từng lớp có độ sâu là 5m, với các độ sâu cần DTXLBMVN lớn hơn 10m cấm không được khoan thẳng một lần đã đạt được độ sâu cần thiết.

Chương 4.

DÒ TÌM, XỬ LÝ BOM–MÌN–VẬT NỔ DƯỚI NƯỚC

Điều 19. Thứ tự các bước khi dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ dưới nước

1. Chuẩn bị mặt bằng

2. Dò tìm ở độ sâu đến 0,5m tính từ đáy nước.

3. Đánh dấu tín hiệu ở độ sâu đến 0,5m tính từ đáy nước.

4. Lặn kiểm tra, đào xử lý tín hiệu ở độ sâu đến 0,5m tính từ đáy nước.

5. Dò tìm ở độ sâu từ 0,5m đến 3m hoặc đến 5m tính từ đáy nước.

6. Đánh dấu tín hiệu ở độ sâu từ 0,5m đến 3m hoặc đến 5m tính từ đáy nước.

7. Lặn kiểm tra, đào xử lý tín hiệu ở độ sâu từ lớn hơn 0,5m đến 1m tính từ đáy nước.

8. Lập phương án và tổ chức thi công đào, xử lý tín hiệu dưới nước ở độ sâu từ lớn hơn 1m đến 3m hoặc đến 5m tính từ đáy nước.

Điều 20. Chuẩn bị mặt bằng

1. Việc dùng các loại phao, neo để định vị và đánh dấu khu vực theo định mức dự toán chỉ dùng cho các khu vực DTXLBMVN có độ sâu nước từ 3m trở lên và có chiều rộng > 50m.

2. Khoanh khu vực sẽ dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ: căn cứ vào các mốc đã đánh dấu khi khảo sát tiến hành khoanh khu vực sẽ DTXLBMVN dưới nước bằng cách đóng các cọc BTCT đánh dấu trên bờ và thả các phao quả nhót loại có 1m3 có neo loại 50kg để định vị, đánh dấu dưới nước tại các vị trí cần thiết. Tổ chức vẽ sơ đồ khu vực.

3. Chuẩn bị mặt bằng: việc chuẩn bị mặt bằng dưới nước chủ yếu tiến hành phát dọn bằng thủ công vì mặt bằng dưới nước đa số gồm các loại cây như sú, vẹt, cỏ lăn, cỏ lác, rong, bèo hoặc các loại cọc …. Riêng các chướng ngại vật quá lớn không có điều kiện trục vớt, xử lý như: các loại dầm cầu, trụ cầu hỏng, tàu thuyền đắm thì đánh dấu để khi dò sẽ có sự chú ý đặc biệt trong việc loại bỏ triệt để các vật gây tín hiệu nhiễu để dò tìm hết bom-mìn-vật nổ.

Điều 21. Dò tìm ở độ sâu đến 0,5m tính từ đáy nước

1. Phạm vi áp dụng: tất cả các khu vực có bom-mìn-vật nổ nằm ở độ sâu đến 0,5m tính từ đáy nước.

2. Trang bị: máy dò bom, thuyền Composit, thuyền cao su các loại, phao, neo (loại 50kg và 20kg làm bằng các loại vật liệu không nhiễm từ), dây đánh dấu đường dò các loại, các trang bị bảo đảm an toàn và bảo hộ lao động.

3. Thứ tự công việc:

a) Kiểm tra xác định độ nhiễm từ của đất đáy nước để điều chỉnh máy dò cho phù hợp, máy dò được đặt làm việc ở nấc độ nhậy thấp từ 1 đến 3 tùy theo độ nhiễm từ của lòng đất đáy nước.

b) Căng dây kết hợp với phao loại 1m3, neo loại 50kg và 20kg để chia nhỏ khu vực thành các ô dò có kích thước (25 x 25)m hoặc (50 x 50)m tùy theo địa hình khu vực và phương án thi công, căng dây đánh dấu đường dò chia ô dò thành các dải dò, mỗi dải rộng 0,5m (hướng đường dò nêu trùng với hướng dòng chảy).

c) Dùngmáy dò bom đặt trên xuồng cao su hoặc thuyền Composit, đầu dò thả xuống gần sát mặt đất đáy nước, tiến hành dò đúng yêu cầu kỹ thuật dọc theo dây đánh dấu dò (đầu dò luôn thẳng đứng và cách mặt đất đáy nước từ 10cm đến 20cm). Dò xong từng dải tiếp tục chuyển dây để dò trên dải tiếp theo.

4. Việc DTXLBMVN dưới nước chỉ được tiến hành trong điều kiện lưu tốc dòng chảy ≤ 1m/s, nếu trường hợp bắt buộc phải thi công trong điều kiện lưu tốc dòng chảy ≥ 1m/s thì phải tăng cường biện pháp bảo đảm an toàn, bảo đảm kỹ thuật dò tìm và chất lượng công trình.

Điều 22. Đánh dấu tín hiệu ở độ sâu đến 0,5m tính từ đáy nước

1. Phạm vi áp dụng: tất cả các tín hiệu phát hiện được khi dò tìm dưới nước đến độ sâu 0,5m tính từ đáy nước.

2. Trang bị: máy dò bom, thuyền Composit, thuyền cao su các loại; phao, neo (loại 20kg làm bằng các loại vật liệu không nhiễm từ), cáp nilon và cờ đánh dấu tín hiệu; các trang thiết bị bảo đảm an toàn và bảo hộ lao động.

3. Thứ tự công việc:

a) Khi máy dò bom phát tín hiệu có vật thể gây nhiễm từ dưới đáy nước tại vị trí đang dò tìm (chỉ thị bằng âm thanh hay độ lệch của kim đồng hồ …). Di chuyển máy dò theo dây dò để kiểm tra xác định chính xác vị trí tâm của tín hiệu.

b) Thả neo loại 20kg (đối với các khu vực có lưu tốc dòng chảy ≥ 1m/s và độ sâu nước lớn hơn 3m) và loại 10kg (đối với các khu vực khác) cạnh vị trí tâm tín hiệu vừa xác định, neo được nối với các phao nhựa đường kính ≥ 30cm bằng các dây nilon Ø = 12mm, trên phao có cắm cờ đỏ đánh dấu tín hiệu.

c) Khi độ sâu nước < 3m có thể dùng sào tre cắm để đánh dấu vị trí tín hiệu.

Điều 23. Lặn kiểm tra, đào xử lý tín hiệu ở độ sâu đến 0,5m tính từ đáy nước

1. Phạm vi áp dụng: tất cả các tín hiệu đã đánh dấu ở độ sâu đến 0,5m tính từ đáy nước.

2. Trang bị: máy dò bom, bộ lặn đồng bộ, thuyền Composit, thuyền cao su các loại, phao, neo, thuốn, xẻng, cáp nilon, các trang bị bảo đảm an toàn và bảo hộ lao động.

3. Thứ tự công việc:

a) Chuẩn bị và thực hiện đầy đủ các biện pháp an toàn, dùng thợ lặn mang thiết bị lặn và các dụng cụ làm tay cần thiết: thuốn, xẻng nhỏ … lặn xuống vị trí tầm tín hiệu đã được đánh dấu, tiến hành các động tác xăm tìm bằng thuốn thận trọng đào tìm theo đúng yêu cầu kỹ thuật cho đến khi lộ hẳn vật gây tín hiệu ra.

b) Kiểm tra xác định vật gây tín hiệu: nếu không phải là bom-mìn-vật nổ thì dùng dây cáp nilon trục vớt lên thuyền để đưa về nơi quy định; nếu là bom-mìn-vật nổ thì xử lý an toàn dùng dây cáp nilon trục vớt lên thuyền đưa về nơi quy định; nếu là bom-mìn-vật nổ không an toàn cho thu gom, vận chuyển hoặc vật nổ lạ thì dùng phao, neo và cờ đỏ đánh dấu lại chờ xử lý riêng.

c) Sau khi đã xử lý xong tín hiệu cần phải dùng máy kiểm tra lại xung quanh và phía dưới tín hiệu vừa xử lý để đảm bảo sạch hết tín hiệu. Nếu còn tín hiệu thì phải tiến hành xử lý như thứ tự đã nêu trên.

Điều 24. Dò tìm ở độ sâu từ 0,5m đến 3m hoặc đến 5m tính từ đáy nước

1. Phạm vi áp dụng: các khu vực có bom-mìn-vật nổ nằm ở độ sâu từ 0,5m đến 3m hoặc đến 5m tính từ đáy nước sau khi đã kết thúc việc DTXLBMVN ở độ sâu đến 0,5m tính từ đáy nước.

2. Trang bị: Máy dò bom, thuyền Composit, thuyền cao su các loại, phao, neo (làm bằng các loại vật liệu không nhiễm từ), dây đánh dấu đường dò các loại, các trang bị bảo đảm an toàn và bảo hộ lao động.

3. Thứ tự công việc:

a) Kiểm tra xác định độ sâu nước, độ nhiễm từ của đất đáy nước để điều chỉnh máy dò cho phù hợp, máy dò được đặt làm việc ở nấc độ nhậy từ 4 đến 7 tùy theo độ nhiễm từ của lòng đất đáy nước và yêu cầu về độ sâu cần dò tìm.

b) Căng dây kết hợp với phao loại 1m3, neo loại 50kg và 20kg để chia nhỏ khu vực thành các ô dò có kích thước (25 x 25)m hoặc (50 x 50)m tùy theo địa hình khu vực và phương án thi công, căng dây đánh dấu đường dò chia ô dò thành các dải dò rộng 1m (hướng đường dò nên trùng với hướng dòng chảy).

c) Dùng máy dò bom đặt trên xuồng cao su hoặc thuyền Composit, đầu dò thả xuống gần sát mặt đất đáy nước, tiến hành dò đúng yêu cầu kỹ thuật dọc theo dây đánh dấu đường dò (đầu dò luôn thẳng đứng và cách mặt đất đáy nước từ 10cm đến 20cm). Dò xong từng dải tiếp tục chuyển dây để dò trên dải tiếp theo.

4. Việc DTXLBMVN dưới nước chỉ được tiến hành trong điều kiện lưu tốc dòng chảy ≤ 1m/s, nếu điều kiện bắt buộc phải thi công trong điều kiện lưu tốc dòng chảy ≥ 1m/s thì phải tăng cường biện pháp bảo đảm an toàn, bảo đảm kỹ thuật dò tìm và chất lượng công trình…

Điều 25. Đánh dấu tín hiệu ở độ sâu từ 0,5m đến 3m hoặc đến 5m tính từ đáy nước

1. Phạm vi áp dụng: tất cả các tín hiệu phát hiện được khi dò tìm dưới nước ở độ sâu từ 0,5m đến 3m hoặc đến 5m tính từ đáy nước.

2. Trang bị: máy dò bom, thuyền Composit, thuyền cao su các loại: phao, neo (loại 20kg làm bằng các loại vật liệu không nhiễm từ), cáp nilon và cờ đánh dấu tín hiệu; các trang bị bảo đảm an toàn và bảo hộ lao động.

3. Thứ tự công việc:

a) Khi máy dò bom phát tín hiệu có vật thể gây nhiễm từ dưới đáy nước tại vị trí đang dò tìm (chỉ thị bằng âm thanh hay độ lệch của kim đồng hồ …). Di chuyển máy dò theo dây dò để kiểm tra xác định chính xác vị trí tâm của tín hiệu (bằng kinh nghiệm có thể sơ bộ ước đoán độ lớn và độ nằm sâu của tâm tín hiệu).

b) Thả neo loại 20kg (đối với các khu vực có lưu tốc dòng chảy ≥ 1m/s và độ sâu lớn hơn 3m) và loại 10 kg (đối với các khu vực khác) cạnh vị trí tâm tín hiệu vừa xác định, neo được nối với các phao nhựa đường kính ≥ 30 cm bằng các dây nilon Ø =12mm, trên phao có cắm cờ đỏ đánh dấu tín hiệu.

c) Khi độ sâu nước < 3m có thể dùng sào tre cắm để đánh dấu vị trí tín hiệu.

Điều 26. Lặn kiểm tra, đào xử lý tín hiệu ở độ sâu từ lớn hơn 0,5m đến 1m tính từ đáy nước

1. Phạm vi áp dụng: tất cả các tín hiệu đã đánh dấu tới độ sâu từ 0,5m đến 1m tính từ đáy nước.

2. Trang bị: máy dò bom, bộ lặn đồng bộ, thuyền Composit, thuyền cao su các loại, máy xói bùn cát, phao, neo, thuốn, xẻng, cáp nilon, các trang bị bảo đảm an toàn và bảo hộ lao động.

3. Thứ tự công việc:

a) Chuẩn bị và thực hiện đầy đủ các biện pháp an toàn, dùng thợ lặn có mang theo các dụng cụ làm tay cần thiết: thuốn, xẻng nhỏ, vòi xói … lặn xuống vị trí tâm tín hiệu đã được đánh dấu, tiến hành các động tác xăm tìm bằng thuốc, dùng vòi xói kết hợp với thận trọng đào bới theo đúng yêu cầu kỹ thuật cho đến khi lộ hẳn vật gây tín hiệu ra.

b) Kiểm tra xác định vật gây tín hiệu: nếu không phải là bom-mìn-vật nổ thì dùng dây cáp nilon trục vớt lên thuyền để đưa về nơi quy định: nếu là bom-mìn-vật nổ thì xử lý an toàn dùng dây cáp nilon trục vớt lên thuyền đưa về nơi quy định; nếu là bom-mìn-vật nổ không an toàn cho thu gom, vận chuyển hoặc vật nổ lạ thì dùng phao, neo và cờ đỏ đánh dấu lại chờ xử lý riêng.

c) Sau khi đã xử lý xong tín hiệu cần phải dùng máy kiểm tra lại xung quanh và phía dưới tín hiệu vừa xử lý để đảm bảo sạch hết tín hiệu. Nếu còn tín hiệu thì phải tiến hành xử lý như thứ tự đã nêu trên.

Điều 27. Lập phương án và tổ chức thi công đào, xử lý tín hiệu dưới nước ở độ sâu từ lớn hơn 1m đến 3m hoặc đến 5m tính từ đáy nước

1. Phạm vi áp dụng: tất cả các tín hiệu đã đánh dấu tới độ sâu từ 1m đến 3m hoặc đến 5m tính từ đáy nước, sau khi đã đào đến độ sâu 1m mà vẫn chưa thấy vật gây tín hiệu.

2. Trang bị: máy dò bom, bộ lặn đồng bộ, thuyền Composit, thuyền cao su các loại, máy xói áp lực cao, máy hút bùn, phao, neo, thuốn, xẻng, các loại khung vây được chế tạo theo đúng yêu cầu, các trang bị bảo đảm an toàn và bảo hộ lao động, các thiết bị phục vụ việc lắp đặt và tháo gỡ khung vây.

3. Thứ tự công việc:

a) Dùng thợ lặn có thiết bị đào kết hợp với các loại máy khác như vòi xói áp lực cao, máy hút bùn vừa tiến hành xăm tìm vừa đào hoặc xói đến cho đến khi lộ hẳn vật gây tín hiệu ra và tiến hành xử lý như ghi tại Điều 26.

b) Với các khu vực có địa chất phức tạp như: cát chảy, bùn thì phải làm các khung vây bằng sắt giống như các khoang giếng. Dùng thợ lặn kết hợp với các loại vòi xói áp lực cao để xói cát, bùn hạ dần các khoang vây xuống rồi đào cho đến khi lộ hẳn vật gây tín hiệu ra sau đó tiến hành xử lý như thứ tự đã nêu tại Điều 26.

4. Trong quy trình này chỉ quy định đối với việc dò tìm dưới nước ở các khu vực gần bờ. Việc tổ chức thi công ở ngoài, biển (xa bờ) sẽ phải lập phương án thi công và dự toán chi phí riêng tùy theo điều kiện cụ thể của từng khu vực.

Chương 5.

THU GOM, PHÂN LOẠI, QUẢN LÝ, VẬN CHUYỂN VÀ HỦY BOM–MÌN–VẬT NỔ DÒ TÌM ĐƯỢC

Điều 28. Thu gom, phân loại bom-mìn-vật nổ dò tìm được

1. Với các loại bom-mìn-vật nổ an toàn khi thu gom, vận chuyển thì dùng các biện pháp kỹ thuật để xử lý an toàn đầu nổ, tập trung về nơi cất giữ để cuối đợt đem đi hủy theo kế hoạch.

2. Khi tập trung bom-mìn-vật nổ thu gom được vào khu vực cất giữ chờ hủy phải tổ chức phân loại và xếp riêng từng chủng loại bom-mìn-vật nổ ra các khu khác nhau; không để lẫn các loại bom-mìn-vật nổ với nhau. Đối với các loại bom-mìn-vật nổ nhạy nổ và bom-mìn-vật nổ chứa chất cháy, chất hóa học … phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật bảo quản phù hợp với từng loại.

3. Số lượng các loại bom-mìn-vật nổ đã thu gom hoặc đã xử lý xong trong từng ngày phải được ghi chép đầy đủ vào sổ theo dõi và nhật ký thi công tránh nhầm lẫn hoặc bỏ sót. Bom-mìn-vật nổ dò tìm được trong từng ngày phải được đưa về khu vực cất giữ để quản lý, không được để lại hiện trường qua đêm.

4. Trường hợp bom-mìn-vật nổ phát hiện được nhưng chưa thể đào, trục vớt và xử lý ngay trong ngày thì phải cắm các loại biển báo theo quy định và tổ chức canh gác cho đến khi đào, trục vớt và xử lý xong.

Điều 29. Vận chuyển bom-mìn-vật nổ dò tìm được

1. Việc vận chuyển các loại bom-mìn-vật nổ dò tìm được từ vị trí dò tìm về nơi cất giữ hoặc từ nơi cất giữ ra bãi hủy phải được tổ chức chặt chẽ và thận trọng:

a) Với các loại bom-mìn-vật nổ thông thường, an toàn cho thu gom vận chuyển thì tập trung vào vị trí quy định để cuối mỗi ca làm việc tổ chức vận chuyển, phân loại và xếp vào nơi cất giữ bảo quản.

b) Khi thu gom, vận chuyển từ nơi tập trung về nơi cất giữ các loại bom-mìn-vật nổ phải được xếp vào các hòm gỗ có lót cát hoặc rơm rạ … (theo đúng quy tắc an toàn khi vận chuyển đối với từng loại bom-mìn-vật nổ nhất là các loại bom-mìn-vật nổ chứa chất độc, chất cháy phải có sự chú ý đặc biệt), rồi mới được vận chuyển về để phân loại và cất giữ bảo quản.

2. Việc vận chuyển bom-mìn-vật nổ ra bãi hủy phải theo đúng quy tắc an toàn về bảo quản, vận chuyển và sử dụng vật liệu nổ theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4586-1997; Điều lệ công tác nổ do Bộ tư lệnh Công binh quy định; các quy tắc an toàn khi vận chuyển bom-mìn-vật nổ dò tìm được quy định trong Điều 37 của Quy trình này.

Điều 30. Cất giữ, bảo quản bom-mìn-vật nổ dò tìm được

1. Kho cất giữ, bảo quản các loại bom-mìn-vật nổ thu gom được trong quá trình dò tìm phải được bố trí ở nơi xa dân, xa vị trí đóng quân, xa các kho tàng và các công trình khác. Tùy vào số lượng, chủng loại bom-mìn-vật nổ thu gom được để bố trí kho cho hợp lý, bảo đảm an toàn. Cự ly an toàn tối thiểu của kho với các công trình xung quanh theo quy định trong tính toán về an toàn kho đạn dược.

2. Kho cất giữ, bảo quản các loại bom-mìn-vật nổ thu gom được trong quá trình dò tìm phải nằm ngoài phạm vi ảnh hưởng của các loại sóng nổ gây ra cho các công trình xung quanh được tính trên tổng số các loại bom-mìn-vật nổ hiện được cất giữ tại kho gây ra nếu do một nguyên nhân nào đó mà bị kích nổ.

3. Các kho cất giữ, bảo quản bom-mìn-vật nổ thu gom được trong quá trình dò tìm phải được tổ chức canh gác và bảo vệ chặt chẽ, nghiêm túc theo đúng điều lệnh canh phòng do Bộ Tổng Tham mưu quy định.

Điều 31. Hủy bom-mìn-vật nổ dò tìm được

1. Các loại bom-mìn-vật nổ thu gom được trong quá trình dò tìm phải được xử lý chủ yếu bằng các phương pháp: hủy nổ, hủy đốt hoặc hủy chôn (chỉ được xử lý bằng phương pháp tháo khi được cơ quan có thẩm quyền cho phép bằng văn bản).

2. Việc tổ chức hủy bom-mìn-vật nổ thu gom được trong dò tìm phải được thống nhất trên toàn khu vực và do chỉ huy trưởng công trường hoặc đội trưởng (tùy theo quy mô công trình) chịu trách nhiệm lập kế hoạch, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức hủy.

3. Kế hoạch hủy phải thực hiện theo đúng phương án đã được phê duyệt, phải phổ biến đến tất cả các bộ phận tham gia thi công trong khu vực và phải thông báo cho các cơ quan có liên quan, cho các cấp chính quyền, cho cơ quan Quân sự và nhân dân địa phương, cho các loại phương tiện thường qua lại trong khu vực.

4. Việc hủy bom-mìn-vật nổ thu gom được bằng các phương pháp hủy nổ, hủy đốt hoặc hủy chôn phải theo đúng các quy trình kỹ thuật hủy nổ, hủy đốt và hủy chôn bom-mìn-vật nổ đã ban hành ứng với từng loại khác nhau:

a) Đối với các loại có chứa chất độc, chất cháy hủy theo:

- Quy trình công nghệ hủy chôn đạn CS và chất độc do Tổng cục Kỹ thuật quy định.

- Quy trình công nghệ xử lý đạn phốt pho trắng do Viện hóa học QS/Binh chủng Hóa học quy định.

b) Đối với các loại đạn hủy theo các Quy trình công nghệ do Tổng cục Kỹ thuật quy định:

- Quy trình công nghệ hủy nổ đầu đạn xuyên.

- Quy trình công nghệ hủy nổ đầu đạn xuyên lõm.

- Quy trình công nghệ hủy đốt đạn súng.

- Quy trình công nghệ hủy nổ đầu đạn pháo, thân đạn cối và thân đạn DKZ sát thương, phá và phá sát thương.

- Quy trình công nghệ hủy đốt đầu đạn pháo 105mm, 155mm, 175mm nổ mạnh.

- Quy trình công nghệ hủy nổ lựu đạn sát thương.

c) Đối với các loại bom hủy theo các Quy trình công nghệ do Tổng cục Kỹ thuật quy định:

- Quy trình công nghệ hủy nổ bom CBU-24B/B, bom bi quả dứa CBU, bom cam CBU-46.

- Quy trình công nghệ hủy nổ bom MK81, MK82.

d) Đối với các loại mìn hủy theo quy trình công nghệ xử lý vũ khí Công binh do Binh chủng Công binh quy định.

Chương 6.

CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT KỸ THUẬT, NGHIỆM THU, BÀN GIAO

Điều 32. Kiểm tra chất lượng công trình

1. Việc kiểm tra chất lượng các công trình thi công DTXLBMVN của các đơn vị phải được tiến hành thường xuyên và liên tục. Công tác này được các nhân viên kỹ thuật của tất cả các cấp, trong đó có các chuyên viên của Binh chủng Công binh thực hiện theo kế hoạch dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hội đồng thẩm định trực thuộc Binh chủng Công binh.

2. Các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng được giao nhiệm vụ đều phải có trách nhiệm kiểm tra chất lượng công trình DTXLBMVN do các đơn vị trong toàn quân thi công.

3. Việc kiểm tra được thực hiện theo phương pháp xác suất trên tổng diện tích đã thi công DTXLBMVN, thông thường diện tích kiểm tra không ít hơn 1% tổng số diện tích đã thi công DTXLBMVN. Khi kiểm tra nếu ở độ sâu 0,3m phát hiện còn để sót ≥ 0,3% số lượng tín hiệu theo số liệu khảo sát (dù không phải là bom-mìn-vật nổ nhưng có kích thước ≥ 3cm x 3cm), nếu ở độ sâu > 0,3m mà để sót bất cứ một tín hiệu nào có kích thước ≥ 3cm x 3cm thì đơn vị thi công phải tổ chức làm lại từ đầu.

4. Các Chủ đầu tư cũng phải có trách nhiệm phối hợp tổ chức hoặc tự tổ chức việc giám sát kỹ thuật thi công công trình DTXLBMVN theo phương án đã được duyệt.

Điều 33. Giám sát kỹ thuật

1. Giám sát kỹ thuật nhằm giúp cho công tác tổ chức chỉ huy thi công đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng và an toàn tuyệt đối. Công ty giám sát kỹ thuật sẽ do một hoặc một số cán bộ kỹ thuật (tùy theo quy mô của công trình) của đơn vị thi công đảm nhiệm. Công tác giám sát kỹ thuật phải được tiến hành trong suốt quá trình thi công DTXLBMVN.

2. Nhiệm vụ của cán bộ giám sát kỹ thuật gồm:

a) Giám sát việc tổ chức thi công DTXLBMVN theo đúng phương án kỹ thuật thi công đã được phê duyệt.

b) Giám sát về phạm vi, diện tích đã DTXLBMVN, số lượng tín hiệu các loại đã tiến hành xử lý, khối lượng phát cây, khối lượng đất đào xử lý tín hiệu, số lượng bom-mìn-vật nổ các loại dò tìm được trong ngày. Ký xác nhận vào nhật ký thi công DTXLBMVN và chịu trách nhiệm về các xác nhận của mình cả về khối lượng và chất lượng của công việc mà mình đã xác nhận.

3. Cán bộ giám sát kỹ thuật phải:

a) Thường xuyên có mặt tại hiện trường, tăng cường công tác kiểm tra đôn đốc, hướng dẫn thi công đúng phương án, quy trình kỹ thuật, quy tắc an toàn; nghiêm khắc chấn chỉnh những sai phạm trong quá trình thi công.

b) Nắm chắc phạm vi, khối lượng diện tích đã DTXLBMVN của đơn vị, tránh bỏ sót diện tích do bất cứ nguyên nhân nào; thường xuyên kiểm tra chất lượng công việc đã hoàn thành. Kiên quyết buộc đơn vị thi công phải làm lại các diện tích không bảo đảm chất lượng.

c) Các cán bộ giám sát kỹ thuật phải chịu trách nhiệm trước chỉ huy trưởng công trường về chất lượng công việc đã hoàn thành của đơn vị mà mình giám sát. Ngoài trách nhiệm báo cáo thường xuyên kết quả giám sát cho chỉ huy trưởng công trường, theo định kỳ còn phải báo cáo kết quả giám sát về chỉ huy đơn vị.

Điều 34. Nghiệm thu bàn giao

1. Việc nghiệm thu kỹ thuật được tiến hành tại thực địa gồm:

a) Kiểm tra chất lượng công việc được tiến hành theo phương pháp kiểm tra xác suất tại một số điểm (thường có kích thước 20m x 20m) với số lượng diện tích kiểm tra chiếm khoảng 1% tổng diện tích đã DTXLBMVN xong.

b) Kiểm tra các cọc mốc đánh dấu khu vực, so sánh với bình đồ hoàn công khu vực đã DTXLBMVN, kiểm tra khối lượng công việc đã thực hiện. Lập các biên bản cần thiết về nghiệm thu các hạng mục công việc và tiến hành ký kết các biên bản tại thực địa.

2. Sau khi tổ chức nghiệm thu kỹ thuật tiến hành tổ chức nghiệm thu bàn giao toàn bộ mặt bằng đã DTXLBMVN giữa đại diện pháp nhân các bên có liên quan. Hồ sơ nghiệm thu bàn giao gồm:

a) Biên bản nghiệm thu để đưa hạng mục công trình XD xong vào sử dụng.

b) Biên bản nghiệm thu khối lượng thi công DTXLBMVN.

c) Biên bản nghiệm thu kỹ thuật tại hiện trường.

d) Biên bản bàn giao mặt bằng đã DTXLBMVN.

e) Sơ đồ hoàn công cho mặt bằng đã DTXLBMVN.

f) Bản cam kết bảo đảm an toàn cho mặt bằng đã DTXLBMVN.

g) Biên bản xác nhận số bom-mìn-vật nổ dò tìm được để đưa đi hủy.

h) Biên bản hủy bom-mìn-vật nổ dò tìm được.

Chương 7.

QUY TẮC AN TOÀN

Điều 35. Quy tắc an toàn chung

1. Mọi hạng mục công việc trong nhiệm vụ DTXLBMVN đều phải được tiến hành trên cơ sở phương án thi công đã được duyệt, các bước triển khai phải được tổ chức chặt chẽ, chỉ huy thống nhất, theo đúng trình tự, đúng quy trình. Nghiêm cấm tự động thay đổi quy trình kỹ thuật DTXLBMVN trong quá trình tổ chức thực hiện, khi bắt buộc phải thay đổi một số bước trong quy trình đã được duyệt thì phải được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền bằng văn bản.

2. Chỉ huy trưởng công trường là người chịu trách nhiệm trực tiếp trước cấp trên và trước pháp luật về việc tổ chức thực hiện đúng phương án thi công, đúng quy trình kỹ thuật, quy tắc an toàn, bảo đảm không sót bom-mìn-vật nổ; hoàn thành nhiệm vụ đúng thời gian quy định, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho người và các phương tiện máy móc trang bị … trong quá trình thi công DTXLBMVN, cũng như cho thi công xây dựng và sử dụng lâu dài của công trình sau này.

3. Phải coi trọng công tác hiệp đồng với chính quyền, cơ quan quân sự các cấp của địa phương sở tại khi tổ chức thực hiện nhiệm vụ DTXLBMVN.

4. Khi làm nhiệm vụ DTXLBMVN phải tổ chức kho cất giữ và bảo quản các loại bom-mìn-vật nổ thu gom được: các loại bom-mìn-vật nổ thu gom được phải được phân loại và xếp riêng ra từng khu khác nhau trong kho cất giữ. Phải có khu cất giữ riêng thuốc nổ và hỏa cụ. Kho cất giữ bom-mìn-vật nổ vật nổ thu gom được không được bố trí gần khu dân cư, khu vực đóng quân và phải được canh gác bảo vệ nghiêm ngặt theo đúng quy định về canh gác kho vũ khí.

Điểm 36. Quy tắc an toàn trong dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ

1. Người chỉ huy đơn vị DTXLBMVN phải luôn có mặt tại hiện trường, đi sâu đi sát, thường xuyên nhắc nhở và chấn chỉnh việc chấp hành đúng quy trình kỹ thuật và quy tắc an toàn.

2. Khi tổ chức phát quang khu vực bằng cách đốt thì phải tổ chức các trạm cảnh giới xung quanh khu vực thật chặt chẽ, cấm những người không có nhiệm vụ vào khu vực đang thi công. Sau khi phát quang bằng phương pháp đốt phải sau 4 giờ mới được vào khu vực vừa đốt để triển khai các công việc tiếp theo.

3. Trước mỗi ca làm việc, các nhân viên kỹ thuật phải làm công tác kiểm tra lại tình trạng kỹ thuật của tất cả các loại trang thiết bị theo đúng yêu cầu.

4. Mỗi ca DTXLBMVN làm việc liên tục tổng cộng là 6 giờ, một người sử dụng máy dò không được làm việc 2 ca liên tục trong một ngày.

5. Nghiêm cấm tùy tiện đi lại tự do trong khu vực thi công DTXLBMVN.

6. Không được cắm cờ, thả phao neo đánh dấu tín hiệu vào đúng vị trí tâm tín hiệu. Không được tự động di chuyển các vật chướng ngại và các đồ vật khác trong khu vực nghi có mìn khi chưa được kiểm tra kỹ.

7. Khi tiến hành xử lý tín hiệu chỉ cho phép một người thực hiện. Khi phát hiện thấy loại bom-mìn-vật nổ lạ thì phải giữ nguyên hiện trường kịp thời báo cáo người chỉ huy trực tiếp biết để tìm biện pháp xử lý thích hợp.

8. Không được mang các loại bom-mìn-vật nổ thu gom được trong khi dò tìm về nhà ở và nơi nghỉ ngơi sinh hoạt.

9. Cấm người, súc vật cũng như các phương tiện xe cộ không có nhiệm vụ vào khu vực đang thi công DTXLBMVN. Không được hút thuốc, uống các đồ uống có chất kích thích trong khi đang làm nhiệm vụ DTXLBMVN.

10. Việc tổ chức thu gom và hủy bom-mìn-vật nổ dò tìm chỉ được thực hiện vào cuối mỗi ca làm việc.

Điều 37. Quy tắc an toàn khi thu gom, phân loại, vận chuyển và hủy bom-mìn-vật nổ dò tìm được.

1. Chỉ thu gom, vận chuyển đi hủy các loại bom-mìn-vật nổ bảo đảm được an toàn trong khi thu gom vận chuyển. Trong trường hợp có các loại bom-mìn-vật nổ không bảo đảm an toàn trong vận chuyển nhưng không thể tổ chức để phá hủy tại chỗ được thì phải xin chỉ thị và được sự đồng ý bằng văn bản của cấp có thẩm quyền mới được tổ chức vận chuyển đi hủy sau khi đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật đặc biệt về bảo đảm an toàn.

2. Xe dùng để vận chuyển bom-mìn-vật nổ mang đi hủy chỉ được phép dùng xe có thùng bằng gỗ, cấm không được dùng xe tự đổ, xe phải luôn ở tình trạng kỹ thuật tốt, lái xe phải là người có tay nghề cao, đức tính cẩn thận, bình tĩnh và dũng cảm. Trên thùng xe phải được lót một lớp cát dầy ≥ 25cm. Không được để lẫn các loại xăng dầu trên thùng xe khi vận chuyển bom-mìn-vật nổ.

3. Khi xếp bom-mìn-vật nổ lên xe phải xếp nằm ngang với hướng xe chạy, phải có các vật chèn không cho bom-mìn-vật nổ va đập vào nhau. Phải chèn, buộc cố định các bộ phận an toàn của ngòi nổ để chúng không thể hoạt động được.

4. Trên xe dùng vận chuyển bom-mìn-vật nổ chỉ được phép ngồi nhiều nhất là 3 người gồm lái chính, lái phụ (khi cần) và cán bộ áp tải.

5. Xe chở bom-mìn-vật nổ không được đi qua thành phố nơi tập trung đông người, nếu bắt buộc phải đi qua thì phải được sự đồng ý bằng văn bản của cấp có thẩm quyền mới được đi qua và phải đi vào ban đêm, vào lúc vắng người và phải hợp đồng chặt chẽ về tuyến đường đi với các cơ quan có trách nhiệm. Xe không được phép đỗ dừng ở chỗ đông người hoặc gần khu vực có kho tàng trong vòng bán kính nguy hiểm.

6. Khi tổ chức hủy bom-mìn-vật nổ phải tuân thủ tuyệt đối các quy tắc an toàn về sử dụng thuốc nổ do Binh chủng Công binh quy định.

7. Vị trí dùng để hủy bom-mìn-vật nổ thu gom được phải được cấp phê duyệt phương án tổ chức thi công DTXLBMVN phê chuẩn.

8. Khu vực bố trí bãi hủy bom-mìn-vật nổ có các trạm cảnh giới an toàn ở các vị trí cần thiết. Phải có các vị trí ẩn nấp bảo đảm an toàn cho lực lượng làm nhiệm vụ hủy nổ, cho chỉ huy bãi hủy và các vị trí cảnh giới.

9. Mỗi lần gây nổ hố hủy xong phải sau 15 phút mới được tiến hành kiểm tra an toàn, sau khi đã kiểm tra an toàn xong mới được bắt tay vào các công việc tiếp theo.

10. Không được tổ chức hủy nổ khi có trời mưa, sấm sét và dông bão. Trường hợp sau khi đã bố trí xong hố hủy thời tiết mới trở lên xấu đi thì phải rút khỏi bãi hủy và tổ chức canh gác bảo vệ an toàn toàn bộ khu vực bãi hủy.

11. Sau khi kết thúc mỗi đợt hủy nổ phải tổ chức kiểm tra an toàn toàn bộ khu vực bãi hủy trước khi rút quân.

Khi thực hiện nhiệm vụ dò tìm xử lý, thu gom, vận chuyển và tổ chức hủy bom-mìn-vật nổ, phải tổ chức ghi nhật ký thi công hàng ngày thật tỷ mỷ, chuẩn xác, lưu số liệu theo chế độ bảo mật và nhật ký chiến đấu.

MINISTRY OF DEFENSE
-------

SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence - Freedom - Happiness
--------------

No.: 95/2003/QD-BQP

Hanoi, 07 August, 2003

 

DECISION

ON ISSUING TECHNICAL PROCEDURE FOR DETECTING AND HANDLING BOMBS, MINES AND EXPLOSIVE OBJECTS”

MINISTER OF DEFENSE

Pursuant to the Law on organization of Government dated 25 December 2001;

Pursuant to Decree No. 41 / CP dated 05 July 1996 of the Government on the functions, powers and organizational structure of the Ministry of Defense;

To meet the needs and duties of detecting and handling bombs, mines and explosive objects and site clearance for performing the national defense works and economic development;

At the request of the Engineering High Command.

DECIDES:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

This technical procedure is the basis for management bodies and units having functions to detect and handle bombs, mines and explosive objects.

Article 2. This Decision takes effect from 07 August 2003, the General Staff, the Engineering High Command and other management bodies and units are liable to execute this Decision.

 

 

FOR THE MINISTER OF DEFENSE
DEPUTY MINISTER




Sr. Lt. Gen. Phung Quang Thanh

 

TABLE OF CONTENTS

INTRODUCTION

CHAPTER I: CHARACTERISTICS, REQUIREMENTS AND GENERAL REGULATIONS

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Article 2: Requirements for detection and handling of bombs-mines-explosive objects.

Article 3: Standards of detachment of detection and handling of bombs-mines-explosive objects.

Article 4: Classification of signal density of bombs-mines-explosive objects.

Article 5: Area, depth and safety corridor in detection and handling of bombs-mines-explosive objects.

CHAPTER II: PREPARATION

Article 6: Survey, collection of data and marking of range of detection and handling of bombs-mines-explosive objects.

Article 7: Preparation for plans and implementation of detection and handling of bombs-mines-explosive objects.

CHAPTER III: DETECTION AND HANDLING OF BOMBS-MINES-EXPLOSIVE OBJECTS ON THE GROUND

Article 8: Limit of area of detection and handling of bombs-mines-explosive objects.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Article 10: Site clearance

Article 11: Manual detection and handling of bombs-mines-explosive objects up to a depth of 7cm.

Article 12. Inspection and on-the-spot destruction of bombs-mines-explosive objects up to a depth of 7cm.

Article 13: Detection using mine detectors up to a depth of 30 cm.

Article 14: Digging for inspection and processing of signal up to a depth of 30 cm.

Article 15: Detection using mine detectors up to a depth from 0.3 mineral extraction to 3 -5 m

Article 16: Digging ground for inspection and processing signal up to a depth of 3 m.

Article 17: Digging ground for inspection and processing signal up to a depth of 5 m.

Article 18: Detection and handling bombs-mines-explosive objects at a depths of greater than 5 m.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Article 19: Order of steps for detection and handling of underwater bombs-mines-explosive objects.

Article 20: Site preparation

Article 21: Detection up to a depth of 0.5 m from the water bottom

Article 22: Signal marking up to a depth of 0.5 m from the water bottom

Article 23: Diving for inspection and digging for signal processing up to a depth of 0.5 m from the water bottom

Article 24: Detection up to a depth from 0.5m to 3m or 5m from the water bottom

Article 25: Signal marking up to a depth from 0.5m to 3m or 5m from the water bottom

Article 26: Diving for inspection and digging for signal processing up to a depth greater than 0.5 -1 m from the water bottom

Article 27: Preparation for plans and organization of digging and processing of underwater signals up to a depth of greater 01 – 03 or 05 m from the water bottom.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Article 28: Collection and classification of detected bombs-mines-explosive objects

Article 29: Transportation of detected bombs-mines-explosive objects

Article 30: Storage and preservation of detected bombs-mines-explosive objects

Article 31: Destruction of detected bombs-mines-explosive objects

CHAPTER VI: TECHNICAL INSPECTION AND MONITORING, ACCEPTANCE AND HANDOVER

Article 32: Inspection of works quality

Article 33: Technical supervision

Article 34: Acceptance and handover

CHAPTER VII: SAFETY RULES

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Article 36: Safety rules in detection and handling of bombs-mines-explosive objects

Article 37: Safety rules upon collection, classification and transportation of detected bombs-mines-explosive objects

REFERENCES

 

INTRODUCTION

For nearly half a century, our country has suffered many wars, such as the resistance war against the French colonialism and American imperialism and war to protect the northern and southwest border; land and people of Vietnam have been affected heavily by a large number of bombs and munitions used by the parties. According to statistics, only the resistance against the US, the number of bombs and munitions used by the United States in Vietnam was 15,350 million tons. Thus the estimated average amount of bombs and munitions was up to 46 tons / km2 or 280 kg / capita.

According to our summarizing documents, the percentage unexploded bombs-mines-explosive objects accounts for between 2% and 5% of the number of used bombs-mines-explosive objects, that means about 350,000 – 800,000 tons of unexploded bombs-mines-explosive objects. According to foreign document, such percentage is about 10% % of the number of used bombs-mines-explosive objects, thus the number of unexploded bombs-mines-explosive objects left over is much greater. After the end of war, there are still frequent traumatic accidents caused by such bombs-mines-explosive objects.

In the process of industrialization and modernization of the country, the removal the aftermath of unexploded bombs-mines-explosive objects lying deeply in the ground in all parts of the country in order to cater for constructional projects, land reclamation and rehabilitation, contributing to the stabilization of people's life is one of the urgent and important tasks which must be done continuously and long to ensure the absolute safety for people and the economic and national defense works of the country.

Removal of unexploded bombs-mines-explosive objects after war is the extremely difficult work which must be done by specialized forces with basic training, good technical expertise and standard equipment, scientific and strict organization in order to conduct the work effectively and safely.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

On the basis of issued documents and the practical experiences summed up after years of implementation of the detection and handling of bombs-mines-explosive objects plus the ongoing development of technological equipment in service of detection and handling of bombs-mines-explosive objects in the country and the world.

To meet the requirements for tasks in the present period, the Ministry of Defense has issued this volume “Technical procedures for detection and handling of bombs-mines-explosive objects” replacing documents previously issued. This is the legal document defining the contents of work as well order of steps in organizing the implementation for uniform application in the tasks of Security – National defense – Economy.

Chapter 1.

CHARACTERISTICS, REQUIREMENTS AND GENERAL REGULATIONS

Article 1. Characteristics of detection and handling of bombs-mines-explosive objects.

1. Detection and handling of bombs-mines-explosive objects after war (abbreviated as DHBMEO) is particularly dangerous work with its peculiar nature of high responsibility. This is political tasks directly affecting the social order and safety, not merely as the other socio-economic activities. Only the specialised engineering forces with capability (personnel and equipment) are assigned to perform these tasks.

2. DHBMEO is difficult, dangerous and hazardous work directly affecting life and health of persons performing it, thus such persons should have particular compensation and benefits.

3. DHBMEO is done on a national scale in all different topographical types (on the ground, underwater, at sea or in rivers, lakes, midland, mountainous areas, delta, sparsely populated or urban areas ...) and in all areas affected by war.

4. Result of DHBMEO and process of implementation are directly related to the safety and life of people, assets, political security and social safety and order.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

1. Those who perform the tasks of DHBMEO must have high sense of responsibility, absolutely control simple subjective thoughts and thoroughly comply with the technical Procedures and must not bypass or skip steps; must not chase the mere productivity which leads to performing work for form’s sake or carelessly or omitting bombs-mines-explosive objects or leading to the unsafety during the performance of DHBMEO, construction and long-term use of works later.

2. Types of machinery and equipment used for DHBMEO tasks must be of sufficient quantity as well as quality assurance. It is required to regularly test and inspect the technical conditions and replace detailes and parts that do not ensure the proper technical requirements and inconsistency (the inspection shall be done by a unit assigned by the Ministry of Defense).

3. During the implementation, it is required to test the quality of detection equipment and professional skills of technicians, works quality and compliance with the safety rules to promptly eliminate errors. The periodical testing must be done by the method of probability. Normally, the tested area is not less than 1% of total area with DHBMEO.

Article 3. Standards of detachment of detection and handling of bombs-mines-explosive objects.

1. Commander of detachment of DHBMEO:

a) Must be a person with competence and deep knowledge in the field of bomb-mine-explosive objects and basic training of technical skills at Army School of Engineering or training course for captain at units or schools with certificate granted by the Engineering arm.

b) Must be a person with practical experience of at least 2 years of organizing and commanding the detection and handling of bombs-mines-explosive objects, grasping the technical procedures, features, structure and operating principles of  types of bomb-mine-explosive object and safety rules; understanding and proficiently using detection equipment.

c) Must be a person who is serious, decisive, careful and has high sense of responsibility, firm skill and spirit in organizing, commanding and dealing with all situations.

d) Takes responsibility before superior and law for all activities of DHBMEO of his/her unit.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

a) Being a male strictly recruited in accordance with political standard, having good moral character, brave spirit, psychological stability, goods sense of organization and discipline, high sense of responsibility, good health and prudent and meticulous working manner.

b) Being trained proficiently on technical skills: grasping the features, structures and operating principles of general types of bomb-mine-explosive object; grasping the technical procedures and safety rules in DHBMEO; grasping the technical features, proficiently using types of specialized machinery and equipment; being granted with certificate of DHBMEO technical skill training course by the Engineering arm or the units authorized by the Engineering arm.

3. Detachment performing DHBMEO must:

a) Organized with adequate and close staff and technical equipment in line with requirements for tasks (staff and equipment with particular regulation).

b) Having adequate working protective equipment and fire and explosion prevention equipment.

4. If any unit performing DHBMEO violates the above standards and is detected by the agency or unit assigned by the Ministry of Defense, such violating unit shall be suspended its performance. If detecting any unit committing violation of 3 times or more upon request of the Engineering High Command, the Ministry shall revoke the practice license of DHBMEO.

Article 4. Classification of signal density of bombs-mines-explosive objects.

1. Concepts:

a) Signals: are all magnetic objects (or non-magnetic) lying in the ground or underground including iron, steel, shrapnel, types of bomb-mine-explosive object...which man or detectors currently used can detect them (indicated by change of sound, deflection of hand of clock, by some kinds of bar or number on liquid-crystal display regardless of size ...) and carry out the handling. The signals to calculate and prepare the performance plans and estimates (after site survey) must be the types of bombs-mines-explosive objects or magnetic objects...with their size from (30x30)mm or more lying in the ground.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

2. Areas having minefields:

a) Are the areas laid with numerous mines in a certain specification. The areas having minefields are mainly located in the Northern and Southwest border belt, around the old warehouses and military bases of the US and the puppet regime.

b) Table of classification of minefield:

Unit: 10,000m2

No.

Classification of minefields

Number of signals

Number of bombs-mines-explosive objects

1

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

From  0 > to 150

From 1 > mine to ≤ 50  mines

2

Minefield – Type 2

From  > 150 to 300

From 50 > mine to ≤ 100 mines

3

Minefield – Type 3

From > 300 to 450

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

4

Minefield – Type 4

From > 450 to 600

From 150 > mine to ≤ 200 50 mines

5

Minefield –Special type

From > 600 or more

From > 200 mines or more

3. Areas having no minefield:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

b) Table of classification of signal density (areas having no minefield):

Unit: 10,000m2

No.

Signal density

Number of signals

Percentage of bombs-mines-explosive objects

1

Type 1

From > 0 to 100 signals

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

2

Type 2

From >100 to 200 signals

From > 3 to ≤ 5% of total signals

3

Type 3

From >200 to 300 signals

From > 5 to ≤ 7% of total signals

4

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

From >300 to 400 signals

From > 7 to ≤ 9% of total signals

5

Special type

From > 400 signals or more

> 9% of total signals or more

c) Classification of signal density applied to each area:

- Detection and handling of bombs-mines-explosive objects on the ground

Unit: 10,000m2

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Classification of area

Amount of signals (signal)

Up to a depth of 0.3m

From > 0.3-3m

From > 3-5m

1

Area 1

From > 0 to 95

From > 0 to 4

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

2

Area 2

From > 0 to 190

From > 0 to 8

From > 0 to 2

3

Area 3

From > 0 to 285

From > 0 to 12

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

4

Area 4

From> 0 to 380

From > 0 to 16

From > 0 to 4

5

Special area

From> 380 or more

From > 16 or more

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

- Detection and handling of underground bombs-mines-explosive objects

Unit: 10,000m2

No.

Classification of area

Amount of signals (signal)

 

Up to a depth of 0.5m

From > 0.5 to 1m

Depth > 1m

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Area 1

From > 0 to 48

From > 0 to 2

From > 0 to 0.2

2

Area 2

From > 0 to 96

From > 0 to 4

From > 0 to 0.5

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Area 3

From > 0 to 143

From > 0 to 6

From > 0 to 1

4

Area 4

From > 0 to 190

From > 0 to 8

From > 0 to 2

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Special type

From > 190 or more

From > 8 or more

From > 2 or more

d) Classification of signals density areas

No.

Classification

Name of locality (from district and town level and higher)

1

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Vietnam-China border areas (5 km from border edge into our country inland); Quang Tri province: all districts and towns; Thua Thien – Hue province: Phong Dien and Huong Thuy districts.

2

Area 3

Nghe An province: Ky Son, Do Luong, Nam Dan, Nghi Loc, Hung Nguyen, Vinh city; Ha Tinh province: All districts and towns except for Thach Ha district; Quang Binh province: All districts except for Dong Hoi town; Thua Thien Hue province: all remaining districts and cities.

3

Area 2

Inner cities and towns: Ha noi, Hai Phong, Bac Giang, Thai Nguyen, Thanh Hoa; Nghe An province: all remaining districts and towns; Ha Tinh province: Thach Ha district; Quang Binh province: Dong Hoi town; Da Nang city: all district except for Ngu Hanh Son; Quang Nam province: all districts and towns except for Hoi An town and Tra My district; Quang Ngai province: All districts and towns; Ninh Thuan province: All districts and towns except for Ninh Hai district; Kon Tum province: All districts and towns; Dak Lak province: MaDrak, Dak Rlap, Krong Bong, Buon Don districts: Gia Lai province: Pleiku city, LaGrai and Chu Prong districts; Dong Nai province: Nhon Trach district; HCM City: Cu Chi, Can Gio districts; Long An: All districts except for Tan An town, Can Giuoc and Thanh Hoa districts; Binh Thuan province: Tuy Phong , Tanh Linh, Ham Tan districts; Binh Duong province: Ben Cat district; Tay Ninh province: Ben Cau, Tan Bien, Tan Chau districts; Can Tho province: Chau Thanh, Thot Not districts, Can Tho city, Vi Thanh town; Tien Giang province: Go Cong, Cho Gao, My Tho, Chau Thanh districts, Go Cong town; Soc Trang province: Soc Trang town, My Tu, Long Phu, Ke Sach, Dam Doi, Cai Nuoc districts; Tra Vinh province: Tra Vinh town; Vinh Long province: Mang Thit, Long Ho, Vung Liem districts, Vinh Long town; Dong Thap province: Sa Dec town; Bac Lieu province: Bac Lieu town.

4

Areas 1

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

4. Special areas:

a) Are areas which are used as bomb and munition destruction site: munition depots exploded many times; around military bases, posts or battlefields of the US and the puppet regime; a number of areas in the Northern border belt with multiple overlapped layers of mine

b) For special areas, there must be plans and estimate of DHBMEO for each specific area.

Article 5. Area, depth and safety corridor in detection and handling of bombs-mines-explosive objects.

1. Area for detection of bombs-mines-explosive objects: based on the requirements of each works, the features of detector and requirements for safety assurance for works, the following areas are included:

a) Area of usable space of works includes the whole or a part of area assigned for use (based on the survey data and provided documents on pollution reality of bombs-mines-explosive objects).

b) Area of safety corridor specified of each works taking into account the importance of such works.

c) For areas with uneven topography (with slope), the area for detection and handling of bombs-mines-explosive objects is calculated as per the topographical slope.

2. Depth for detection and handling of bombs-mines-explosive objects: based on the features, effect and penetration of bombs-mines-explosive objects and purpose of use to determine the depth for DHBMEO.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

b) Detection and handling of bombs-mines-explosive objects up to the depth of 3 m for all relocation and housing projects with the height under 10 m, irrigation canals, reservoirs, channel dredging up to a depth under 3m. The low-level transport projects such as traffic roads up to grade 3, the district routes and rural roads.

c) Detection and handling of bombs-mines-explosive objects up to the depth of 5m for all constructional projects with the height over 10 m, industrial construction and high-level traffic construction such as National highways, provincial roads...

d) Detection and handling of bombs-mines-explosive objects up to the depth of over 5m for all project of special importance, places with marking of unexploded bombs but undetected up to a depth of 5 m.

3. Safety corridor for DHBMEO to ensure the safety for works construction performance (manually and motored equipment) after the end of DHBMEO: is the distance on the surface from the outer edge of works to the outer edge of area of DHBMEO. The purpose is to ensure not to explode the bombs-mines-explosive objects left over after war outside this area due to the effect of machinery and equipment upon performance of works construction. The width of safety corridor strip is defined base on the type, importance as well as the size of works. Particularly:

a) Projects of reclamation, rehabilitation and relocation: 05 m from the edge of boundary perimeter outwards.

b) Civil and industrial constructional projects: 7 m (up to 10 m for special works) from the edge of boundary perimeter outwards.

c) Low-level traffic roads (from level 5 or less): 5m from the edge on digged and embanked talus or outer edge of longitudinal groove outwards of each side.

d) Average-level traffic road (from level 2 to 4): 7m from the edge on digged and embanked talus or outer edge of longitudinal groove outwards of each side.

e) High-level traffic roads and ways in and out large bridges: 10 m from the edge on digged and embanked talus or outer edge of longitudinal groove outwards of each side.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

g) Seaway channel: 25 m (special channel: 50m) from the upper edge of digged talus of channel outwards to each side.

h) Riverway channel and irrigation canal: 15m (special: 30m) from the upper edge of digged talus of channel or canal outwards to each side.

i) Routes of optical cables, communication cables, underground electrical cables: 3m (in case of performance with machine), 1.5m (in case of manual performance) from the center of route outward route to each side.

k) Water, oil and gas pipeline Ø < 20cm: 5 m from the upper edge of digged talus and foot of embanked talus outwards to each side.

m) Water, oil and gas pipeline Ø ≥ 20cm: 10 m from the upper edge of digged talus and foot of embanked talus outwards to each side.

n) River and sea embankment: 05 m from the outer edge of foundation pit outwards to each side.

p) Geological survey drill hole: radius is 20 m from the center of hole outwards.

q) Drill hole for water or oil extraction: radius is 50 m from the center of hole outwards.

4. The corridor of DHBMEO to ensure the safety for later use of works is the distance on the surface from the outer edge of works to the outer edge of area of DHBMEO. The purpose is to ensure the absolute safety for constructional performance and long-term use later and when there are unexploded bombs-mines-explosive objects left over after war beyond this range exploded due to natural causes or impacts outside, they shall not damage the works or cause casualties to people in the works. The width of safety corridor strip is defined based on the importance as well as size of works.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

No.

Current bombs and munitions in the adjacent areas

Safety corridor (m)

Note

Explosion on the ground

Underground explosion

 

1

> 0 to 250 reckoners

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

331

Glass windows of works to be built shall not be broken upon explosion of bombs

2

> 250 to 1,000 reckoners

2,810

937

3

> 1,000 to 3,000 reckoners

4,332

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

b) Scope of application: the application of range of safety corridor strip must be based on the importance of each works and types of bomb-mine-explosive object in the areas as per the survey data. The investors and the units responsible for carrying out the survey, prepare plans and estimate of DHBMEO shall discus and reach to an agreement for decision.

Chapter 2.

PREPARATION

Article 6. Survey, collection of data and marking of range of detection and handling of bombs-mines-explosive objects.

1. Carrying out the survey and collection through archived documents and records, local government and armed forces managing areas, local people concerning the characteristics and reality of bombs-mines-explosive objects such as: layout, way of layout, raiding level, types, nature of bombs-mines-explosive objects that forces (both ourselves and the enemy) have used in the areas where the DHBMEO shall be done.

2. From documents provided or handed over at the site or on map, a number of reinforced concrete stakes shall be driven to mark the boundary. The outline of areas shall be drawn.

3. Conducting survey at the site:

a) Conducting survey to determine the signal density of the whole area by doing DHBMEO with proper steps of procedure at some places with general size (20 x 20) m representing each type of topography with the total area of survey places of at least 1% of the total area of the whole area of DHBMEO.

b) Conducting survey to determine level of forest, topography, soil, degree of magnetization of soil, weather, climate, hydrology; security and political situation, residential area situation; locating place for stay to carry out tasks...

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

1. The performance plans must clearly show: general tasks, location and situation related to the task performance: specific volume of performance, method of performance, technical solution, progress, security assurance and recommendations.

2. The method of performance must be based on the reality of area, topography, signal density and task requirements to determine to conduct all steps or only a number of steps or carry out DHBMEO on many layers in the same area

3. The performance plans must be accompanied with the announcement of reality of bombs-mines-explosive objects from the military bodies at provincial level or higher, surveying documents, drawings of performance site of DHBMEO, clearly shown performance boundary, area and depth of DHBMEO respectively.

4. For areas with topography and signal density of bombs-mines-explosive objects of as special cases such as: areas of magnetic land, areas with bomb and munition depot raided many times, area used to temporarily bury bombs-mines-explosive objects at localities upon detection of bombs-mines-explosive objects for reclamation and rehabilitation after liberation, areas with types of bomb and munition containing chemicals, toxic substances...., the performance plans must have appropriate and authentic technical solutions.

5. The plans for DHBMEO must be signed by the plan makers or unit commander and are only done after being approved by the competent level.

Chapter 3.

DETECTION AND HANDLING OF BOMBS-MINES-EXPLOSIVE OBJECTS ON THE GROUND

Article 8. Limit of area of detection and handling of bombs-mines-explosive objects.

1. Based on the milestone upon survey, prepare the surrounding way from 4-6 m wide around the whole area for detection, travel and transport of materials and equipment and isolation of DHBMEO area with the surroundings to prevent spread of fire if using the burning method to clear the site.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Article 9. Order of steps for detection and handling of bombs-mines-explosive objects on the ground.

1. Areas with minefield:

a) Clearance of site by hand or by hand combined with gasoline burning or removal of barbed wire fence with explosives.

b) Detection and handling by manual method up to the depth of 7 cm.

c) Inspection and on-the-spot destruction of bombs-mines-explosive objects up to the depth of 7 cm (if any).

d) Detection with mine detector up to the depth of 30 cm.

e) Digging for inspection and handling of signal up to the depth of 30 cm.

f) Detection with bomb detector up to the depth from 0.3 m to 3 or 5 m.

g) Digging for inspection and handling of signal up to the depth of 3 m.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

i) Detection and handling of bombs-mines-explosive objects at depths of greater 5 m.

2. Areas having no minefield:

a) Clearance of site by hand or by hand combined with gasoline burning.

b) Detection with mine detector up to the depth of 30 cm.

c) Digging for inspection and handling of signal up to the depth of 30 cm.

d) Detection with bomb detector up to the depth from 0.3 m to 3 or 5 m.

e) Digging for inspection and handling of signal up to the depth of 3 m.

f) Digging for inspection and handling of signal up to the depth of 5 m.

g) Detection and handling of bombs-mines-explosive objects at depths of greater 5 m.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

1. Contents of work: clearing creepers, grass and litter, small trees with diameter of 10cm or less and the remaining stumps must not higher than 5 cm (for trees with diameter > 10 cm, only cutting them if there are signals under their stumps) and all obstacles in the site and taking them out of the range of performance of DHBMEO. Conducting the inspection, handling and clearing all signal on the ground.

2. Manual site clearance:

a) Scope of application: all types of topography such as: delta, midland, forest and mountain, wetland and coastal mangrove.

b) Equipment: matchets and other manual tools, testing equipment of bombs-mines-explosive objects, stakes and signboards.

c) Order of work:

- Setting stakes to divide area into cells with size (25x25)m or (50x50)m depending on the topography of area (or the length is 25 m and the width depends on the width of detected area when performing DHBMEO at narrow strips).

- Clearing all trees and obstacles in accordance with technical requirements and taking them out of the range of area of DHBMEO (if such areas have minefields, the site clearance is done simultaneously with the detection up to the depth of 7cm).

3. Site clearance by hands combined with gas or oil burning:

a) Scope of application: only applied to the areas with or without minefield but with dense trees, reeds and creepers with the permission from the forest management authorities.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

c) Order of work:

- Clearing trees and preparing ways from 2 to 3 m wide to divide cells with size (25x25)m or (50x50)m depending on the topography of area (or 25 or 50 m long and the width depending on the maximum breadth of detected area upon performance of DHBMEO at narrow corridor strips).

- Spraying oil and gas to burn all dense trees in each cell at the appropriate time.

- Clearing trees and obstacles and take them out of the area of DHBMEO in each cell (this is done simultaneously with the step of DHBMEO up to the depth of 7cm or 30cm). Detection is done by spades and detector in accordance with the techniques specified in Articles 10, 11, 12 and 13 of this Procedure.

3. Site clearance by hand combined with explosives:

a) Applied to areas having minefield with barbed wire fence and dense trees, reeds and creepers.

b) Equipment and material mainly include: matchets and other manual tools, testing equipment of bombs-mines-explosive objects, signal stakes, signboards, explosives, chemical tools, explosion detonating devices and other materials.

c) Order of work:

- Observing, inspecting and using long explosive amount to remove fence; preparing minor way from 2 to 3 m wide as service road, setting stakes to divide the area into cells with size (25x25)m or (50x50)m depending on topography of area (area (or 25 or 50 m long and the width depending on the maximum breadth of detected area upon performance of DHBMEO at narrow corridor strips).

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Article 11. Manual deetection and handling of bombs-mines-explosive objects up to a depth of 7cm

1. Scope of application: areas having minefields with bounding mines, explosion-sensitive mines and plastic mines which are difficult to be detected by the current detectors and areas having minefields with magnetic objects which the detector is not effective.

2. Equipment: specilialized wires for marking detection way, spades, matchets, daggers, shovels, safety latches, red and white small burgees, collecting tools...

3. Order of work:

a) From the way of detection cell division, use white pennon to mark the range of detection way (1-1.5m wide), mark wherever the DHBMEO is done (one pennon for 1.5m). Only raise a pennon to mark the first detection strip border and until the next detections strips, draw pennon of the first adjacent detection strip border and place it in the border of undetected side in the form of rolling method.

b) Using spade and observing with naked eyes and boring in accordance with technical requirements from left to right, from near to far and vice versa. The manipulation of spade must be technically correct (head of spade tilts into an angle of 300- 400 compared with natural ground. Use spade in the form of apricot blossom, the spade heads are 3-5 cm apart and 7-10 cm deep).

c) When detecting signals, use spade to bore, inspect and identify them and then make digging to inspect the signals with basic techniques. If the signals are not the bombs-mines-explosive objects, collect them to the prescribed place; if the bombs-mines-explosive objects, handle them safely and collect them to the prescribed place; if unsafe or strange bombs-mines-explosive objects, mark the place with red pennon for particular handling.

d) If there are persons performing detection in the same area, the distance between 2 closest persons is ≥ 15m (greater than the maximum dangerous radius of types of bomb-mine-explosive object in the area based on the survey result).

Article 12. Inspection and on-the-spot destruction of bombs-mines-explosive objects up to a depth of 7cm.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

2. Equipment: spades, daggers, shovel, explosives, fire equipment and explosion detonating devices.

3. Order of work:

a) Using the centralized explosive amount directly placed at explosive object to be destroyed, the explosive amount for destruction must be based on each type of bomb-mine-explosive object for calculation by the formula specified by the Engineering arm in the explosion work Charter.

b) After destruction, it is required to carry out the re-inspection to ensure no more bombs-mines-explosive objects. In case of residue, conduct the handling as the above-mentioned order.

c) Inspecting and collecting types of explosion detonating devices and debris (if any) out of the performance area of DHBMEO.

Article 13. Detection using mine detectors up to a depth of 30 cm.

1. Scope of application: for minefields, after performance of DHBMEO up to the depth of 07 cm and for areas having no minefields.

2. Equipment: mine detector, spade, red and white pennons, wooden stakes and specialized wires to mark detection way.

3. Order of work:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

b) Using mine detector with proper technical requirements. Detection is done from left to right and vice versa, the last detection track must cover 1/3 of the previous one, the last detection way must encroach on the previous one from 10 to 20cm.

c) When the detector indicates signals, the detector shall do cross-track detection to identify the signal center and use red pennon for marking next to the signal center.

d) When there are many detectors operating in the same area, such detectors must have a distance of at least 7m to avoid interference.

Article 14. Digging for inspection and processing of signal up to a depth of 30 cm.

1. Scope of application: for all marked signals

2. Equipment: detector, spade, small shovel, dagger, safety latches, explosive, fire equipment, explosion detonating devices and collecting tools.

3. Order of work:

a) Using mine detector and spade to re-inspect the place with marked signal. Using small shovel to dig a hole 0.5 – 0.6m wide (depending on the magnitude of the signal), carefully peeling away layers of soil from top to down and from edge to center of hole, digging and inspecting. When the signals are shown, using dagger to dig the soil around to make the signaling object appear.

b) Inspecting and identifying the signaling object: if not bombs-mines-explosive objects, collecting it to the prescribed place; if bombs-mines-explosive objects, carrying out the safe handling and collecting it to the prescribed place; if bombs-mines-explosive objects unsafely for collection, transport or strange explosive objects, marking them with red pennon for particular handling.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Article 15. Detection using mine detectors up to a depth from 0.3 mineral extraction to 3 -5 m

1. Based on the requirements on depth to be detected to set the detector at different sensitivity levels. If detection is done only up to a depth of 3m, the detector is set at low sensitivity level. If detection is done up to a depth of 5m, the detector is set at higher sensitivity level. The detection strip should be divided in the direction North - South.

2. Scope of application: all areas have bombs-mines-explosive objects at a depth greater than 0.3m after carrying out DHBMEO at a depth up to 0.3m from the current natural ground or less.

3. Equipment: bomb detector, red pennon for signal marking, stakes and specialized wire to mark the detection way (rope).

4. Order of work:

a) Preparing detector, inspecting and determine the magnitization level of soil in the area to adjust the detector accordingly.

b) Setting stakes and stretch wire to mark detection way. Each detection way is 1m separated from one another.

c) Using bomb detector in line with technical requirements to detect all signals up to the required depth. When the detector transmits signals (by change of sounds, deflection of hand of clock...) to indicate the underground suspected signal, conducting extensive detection around the suspect location to identify the signal center correctly and then using big red pennon to place next to the signal center for marking and handling.

d) When there are more than 02 detectors operating in the same area, such detectors must have a distance of at least ≥7m to avoid interference.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

1. Scope of application: for all marked signals.

2. Equipment: bomb detector, spade, engineering small shovel, dagger, safety latches, explosive, fire equipment, explosion detonating devices and collecting tools and water pump if detection is done at place with underground water.

3. Order of work:

a) Preparing, inspecting and using manual tools to carefully dig around the marked signal center. Digging from outside to inside, the size of hole depends on the magnitude and depth of signal (through estimation upon inspection with detector) for decision; as close to the signaling object, dig in layers with thickness less than 10cm, using detector in combination with spade to carry out the inspection around the signal center before digging the next layer until the appearance of signaling object.

b) Inspecting and identifying the signaling object: if not bombs-mines-explosive objects, collecting it to the prescribed place; if bombs-mines-explosive objects, carrying out the safe handling and collecting them to the prescribed place; if bombs-mines-explosive objects unsafely for collection, transport or strange explosive objects, marking them with red pennon for particular handling.

c) After finishing the handling of signal, it is required to use detector to inspect the surroundings and under the signal just handled to ensure no signal left. If there is residue of signal, conducting the handling like the above-mentioned order.

Article 17. Digging ground for inspection and processing signal up to a depth of 5 m.

1. Digging soil to inspect and handle signals up to the depth of 05m upon requirements for DHBMEO up to a depth of 5 m and after finishing the step of digging to inspect and handle signal up to the depth of 3m but not reaching the signaling object.

2. Scope of application: for all marked signals after digging soil to inspect and handle signals at a depth from 0.3 to 3m.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

4. Order of work:

a) Preparing, inspecting and using manual tools to carefully dig around the marked signal center. Digging from outside to inside, the size of hole depends on the magnitude and depth of signal (through estimation upon inspection with detector) for decision; as close to the signaling object, dig in layers with thickness less than 10cm, using detector in combination with spade to carry out the inspection around the signal center before digging the next layer until the appearance of signaling object.

b) Inspecting and identifying the signaling object: if not bombs-mines-explosive objects, collecting it to the prescribed place; if bombs-mines-explosive objects, carrying out the safe handling and collecting it to the prescribed place; if bombs-mines-explosive objects unsafely for collection, transport or strange explosive objects, marking them with red pennon for particular handling.

c) After finishing the handling of signal, it is required to use detector to inspect the surroundings and under the signal just handled to ensure no signal left. If there is residue of signal, conducting the handling like the above-mentioned order.

d) Based on the topographical condition of the area to take measures to dig in the form of ladder along the talus roof or make embankment into wooden hole to prevent landslide. When it rains or there is underwater in the hole, use water pump to suck water to create favorable conditions for digging and handling of signals.

Article 18. Detection and handling bombs-mines-explosive objects at a depths of greater than 5 m

1. Based on the features of a majority of types of detector currently used, the DHBMEO at a depths of greater than 5m is only done after finishing DHBMEO at a depths of 0.3m and 5m. It is required to drill a hole for detection, each drill shall detect the depth of 5m, each area layer to calculate and estimate has a depth of 5m, depending the requirements to decide the depth of drill and number of drills.

2. When performing DHBMEO at a depth of greater than 5m, there must be specific performance plans for each works (by the method of hole drill for detection). The performance plans must suit the requirements and topographical condition of area.

3. The holes are arranged in the shape of apricot blossom and the distance between boreholes is 2m; the depth of borehole of each drilling time is equal to the required depth for DHBMEO minus the depth of one or many times of borehole and detection as 5m (a number of drill layers and detection are based on the depth for DHBMEO for decision). The diameter of borehole is ≥ 105mm, the wall of borehole is protected by the system of plastic tube or material to harden the hole wall.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

5. Detection and drill are only permitted in turn of each layer at a depth of 5m; with the depths for DHBMEO greater than 10m, it is not permitted to drill straight once to reach the necessary depth.

Chapter 4.

DETECTION AND HANDLING OF UNDERWATER BOMBS-MINES-EXPLOSIVE OBJECTS

Article 19. Order of steps for detection and handling of underwater bombs-mines-explosive objects.

1. Preparing site

2. Performing detection at a depth up to 0.5m from water bottom.

3. Marking the signal at a depth up to 0.5m from water bottom.

4. Diving to inspect, dig and handle signals at a depth up to 0.5m from water bottom

5. Performing detection from 0.5 – 3 or 5m from water bottom.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

7. Diving to inspect, dig and handle signals at a depth greater from 0.5 -1m from water bottom

8. Preparing plans and organizing the digging and handling of signals underwater at a depth greater from 1 -3 or 5m from water bottom

Article 20. Site preparation

1. The use of buoys and anchors to locate and mark the area at estimate norm is only for areas of DHBMEO with depth from 3m or more and a width of> 50m.

2. Limiting the area where bombs-mines-explosive objects shall be dected and handled: based on the milestones marked upon survey, limit the area of DHBMEO underwater by driving reinforced concrete stakes to mark onshore and drop oleaster-shaped buoys 1m3 with anchor weighed 50 kg to locate and mark underwater at necessary places and draw the outline of area.

3. Preparing the site: the site preparation underwater is mainly to clear the site manually because the underwater site includes the majority of plants such as black mangrove, bruguiera, tumbleweed, seaweed, water fern or stakes...For too much big obstacles without condition to lift or handle such as: damaged bridge beams or piles, wrecked boats...make marking so as to pay special attention upon detection in thorougly eliminating objects which can cause interference signals for complete detection of bombs-mines-explosive objects.

Article 21. Detection up to a depth of 0.5 m from the water bottom

1. Scope of application: All areas have bombs-mines-explosive objects at a depth up to 0.5m from the water bottom.

2. Equipment: Bomb detector, composite boat, rubber boat of various kinds, buoy, anchor (50kg and 20kg made from non-magnetic materials), wire marking detection way of various kinds and equipment to ensure safety and working protection.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

a) Inspecting and determining the intensity of magnetization of soil at water bottom to adjust detector accordingly. The detector is set at sensitivity level from 1 to 3 depending on the intensity of magnetization of soil at water bottom.

b) Stretching wire in combination with buoy 1m3, anchor 50kg and 20kg to divide the area into cells with size (25 x 25)m or (50 x 50)m depending on the topography of area and performance plans, stretching wire to mark the detection way and dividing detection cells into detection strips; each strip is 0.5m wide (direction of detection way should coincide with the flow direction).

c) Using bomb detector placed on the composite or rubber boat and dropping the probe nearly close to the ground of water bottom and conducting detection in accordance with technical requirements along the wire marking detection (the probe must be vertical and 10 – 20 cm away from the ground of water bottom). When finishing detection of each strip, continuing to move wire to detect the next strip.

4. The performance of DHBMEO underground is only conducted under conditions of flow velocity ≤ 1 m / s. In case of required performance under conditions of flow velocity 1 m / s, it is required to strengthen measures to ensure the safety and detection techniques and works quality.

Article 22. Signal marking up to a depth of 0.5 m from the water bottom

1. Scope of application: All signals which have been found upon detection underwater up to a depth of 0.5 m from the water bottom.

2. Equipment: Bomb detector, composite boat, rubber boat of various kinds; buoy, anchor (20kg made from non-magnetic materials), nylon cables and pennon and other equipment of safety assurance and working protection.

3. Order of work:

a) When the bomb detector transmits signals to indicate magnetic objects from water bottom at detection location (by sounds or deflection of clock hand..). Moving the detector along with detecting wire to inspect and correctly determine the location of signal center.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

c) When the water depth is <3m, using bamboo pole to mark the signal location.

Article 23. Diving for inspection and digging for signal processing up to a depth of 0.5 m from the water bottom

1. Scope of application: All signals which have been marked up to a depth of 0.5m from water bottom.

2. Equipment: Bomb detector, synchronized diving equipment, composite boat, rubber boat of various kinds, buoy, anchor, spade, shovel, nylon cable, and equipment to ensure safety and working protection.

3. Order of work:

a) Preparing and fully taking safety measures, let divers bring the diving equipment and necessary manual tools such as: small spade, shovel...and dive to location of marked signal and use spade to pock into the ground with spade and carefully dig around it with proper technical requirements until the appearance of signaling object.

b) Inspecting and identifying signaling object: if not bombs-mines-explosive objects, using nylon cable to lift it onto boat and take it to the prescribed place; if bombs-mines-explosive objects unsafely for collection, transport or strange explosive object, using buoy, anchor and red pennon to mark it for particular handling.

c) After handling the signal, using detector to inspect around and under the handled signal to ensure no signal left. If residual signal, conducting the handling in the order mentioned above.

Article 24. Detection up to a depth from 0.5m to 3m or 5m from the water bottom

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

2. Equipment: Bomb detector, composite boat, rubber boat of various kinds, buoy, anchor (made from non-magnetic materials), marking wires of detection way and equipment to ensure safety and working protection.

3. Order of work:

a) Inspecting and identifying water depth and intensity of magnetization of soil at water bottom to adjust detector accordingly. The detector is set at sensitivity level from 4 to 7 depending on the intensity of magnetization of soil at water bottom and depth requirement for detection.

b) Stretching wire combined with buoy 1m3, anchors 50kg and 20kg to divide the area into cells with size (25 x 25)m or (50 x 50)m depending on the topography of area and performance plans, stretching wire to mark the detection way and dividing detection cells into detection strips; each strip is 1m wide (direction of detection way should coincide with the flow direction).

c) Using bomb detector placed on the composite or rubber boat and dropping the probe nearly close to the ground of water bottom and conducting detection in accordance with technical requirements along the wire marking detection (the probe must be vertical and 10 – 20 cm away from the ground of water bottom). When finishing detection of each strip, continuing to move wire to detect the next strip.

4. The performance of DHBMEO underground is only conducted under conditions of flow velocity ≤ 1 m / s. In case of required performance under conditions of flow velocity 1 m / s, it is required to strengthen measures to ensure the safety and detection techniques and works quality…

Article 25. Signal marking up to a depth from 0.5m to 3m or 5m from the water bottom

1. Scope of application: All signals found upon detection underwater at a depth from 0.5 – 3 or 5m from the water bottom.

2. Equipment: Bomb detector, composite boat, rubber boat of various kinds, buoy, anchor (made from non-magnetic materials), marking wires of detection way and equipment to ensure safety and working protection.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

a) When the bomb detector transmits signals to indicate magnetic objects from water bottom at detection location (by sounds or deflection of clock hand..). Moving the detector along with detecting wire to inspect and correctly determine the location of signal center (the magnitude and depth of signal center may be preliminarily estimated by experience).

b) Dropping anchor 20kg (for areas with flow velocity 1 m / s and depth greater than 3m) and anchor 10kg (for other areas) next to the signal center just identified. The anchor is connected to plastic buoys ≥ 30cm in diameter with nylon wires Ø = 12mm. Raising red pennon on buoy to mark the signals.

c) When the water depth is <3m, using bamboo pole to mark the signal location.

Article 26. Diving for inspection and digging for signal processing up to a depth greater than 0.5 -1 m from the water bottom

1. Scope of application: All signals marked up to a depth from 0.5 -1 m from the water bottom.

2. Equipment: Bomb detector, synchronized diving equipment, composite boat, rubber boat of various kinds, sand blower, buoy, anchor, spade, shovel, nylon cable, and equipment to ensure safety and working protection.

3. Order of work:

a) Preparing and fully taking safety measures, let divers bring the diving equipment and necessary manual tools such as: small spade, shovel, blowing hose..and dive to location of marked signal and use spade to poke into the ground carefully combined with use of blowing hose in accordance with proper technical requirements until the appearance of signaling object.

b) Inspecting and identifying signaling object: if not bombs-mines-explosive objects, using nylon cable to lift it onto boat and take it to the prescribed place; if bombs-mines-explosive objects unsafely for collection, transport or strange explosive object, using buoy, anchor and red pennon to mark it for particular handling.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Article 27. Preparation for plans and organization of digging and processing of underwater signals up to a depth of greater 01 – 03 or 05 m from the water bottom.

1. Scope of application: All signals marked up to a depth from 1 - 3 or 5m from the water bottom, after digging to a depth of 1m without finding the signaling object.

2. Equipment: Bomb detector, synchronized diving equipment, composite boat, rubber boat of various kinds, high-pressure sand blower, dredger, buoy, anchor, spade, shovel, sheet pile wall made in accordance with requirements, equipment to ensure safety and working protection and equipment for installation and removal of sheet pile wall.

3. Order of work:

a) Let divers with digging equipment combined with other machinery such as high-pressure blowing hose or dredger, either pock into the ground to find or blow until the appearance of signaling object and perform the handling as specified in Article 26.

b) For areas with complex geology such as quicksand, mud, there must be iron sheet pile wall like the well chambers. Divers with high pressure hoses are used  to blow sand and mud and lower fencing chambers and dig until the appearance of signaling object then perform the handling in the order as specified in Article 26 .

4. In this procedure, only underwater detection in near-shore areas is specified. The performance at sea (offshore) must be planned and estimated depending on specific conditions of each area.

Chapter 5.

COLLECTION, CLASSIFICATION, CONTROL, TRANSPORTATION AND DESTRUCTION OF DETECTED BOMBS-MINES-EXPLOSIVE OBJECTS

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

1. With types of bomb-mine-explosive object which are safe upon collection and transport, the technical measures are used to handle the explosion head and gather them to the storage for destruction as planned at the end of detection.

2. When gathering the collected bombs-mines-explosive objects in a storage to wait for destruction, it is required to classify and arrange each type of bombs-mines-explosive objects in different areas without putting them together. For types of bomb-mine-explosive object with explosive sensitivity or with flammable substances or chemicals..it is required to apply technical measures to preserve each type appropriately.

3. A number of bombs-mines-explosive objects collected or handled each day must be fully recorded in the tracking book and performance diary to avoid confusion or omission. The bombs-mines-explosive objects found each day must be brought to the storage area for management without leaving them at the site overnight.

4. Where the bombs-mines-explosive objects are detected but cannot be digged up, lifted and handled in a day, it is required to place signboards under regulations and provide guard until complete digging, lifting and handling.

Article 29. Transportation of detected bombs-mines-explosive objects

1. The transportation of detected bombs-mines-explosive objects from the detection site to the storage or from the storage to the destruction site must be organized strictly and carefully:

a) For general types of bomb-mine-explosive object which are safe for collection and transportation, gather them in a prescribed location to transport, classify and arrange in the storage at the end of working shift.

b) When collecting and transporting the bombs-mines-explosive objects from the gathering place to the storage, they must be placed in wooden boxes lined with sand or straw ... (in accordance with safety rules upon transport for each type of bomb-mine-explosive object or with special attention to the types of bomb-mine-explosive containing flammable and toxic substances), then transported, classified and stored.

2. The transport of bombs-mines-explosive objects to the destruction site must comply with the safety rules on preservation, transport and use of explosive materials as per TCVN 4586-1997; the explosion work Charter specified by the the Engineering High Command; the safety rules upon transport of detected bombs-mines-explosive objects specified in Article 37 of this Procedure.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

1. The storage of bombs-mines-explosive objects collected during detection must be placed far away residential areas, military base, warehouses and other works. Depending on the number and types of bomb-mine-explosive object collected to arrange the storage rationally and ensure the safety. The minimum safe distance of storage with the surrounding works is in accordance with regulations in calculating the safety of munition depot.

2. The storage of bombs-mines-explosive objects collected during detection must be located beyond the sphere of influence of types of blast wave caused to the surrounding works by calculation of explosion of the total types of bomb-mine-explosive object currently stored in the storage due to a certain cause of detonation.

3. The storage of bombs-mines-explosive objects collected during detection must be strictly guarded in accordance with the guarding regulations specified by the the General Staff.

Article 31. Destruction of detected bombs-mines-explosive objects

1. The bombs-mines-explosive objects collected during detection must be handled primarily by the method: destruction by explosion, burning or burial (only handlling by the disassembly method upon written permission by the competent authorities).

2. The destruction organization of bombs-mines-explosive objects collected during detection must be carried out uniformly throughout the area and must be planned by a site commander or captain (depending on the model of site) and submitted to the competent authorities for approval and destruction organization.

3. The destruction plan must be done in accordance with the approved plan and disseminated to all units involved in the performance in the area and notified to the relevant bodies, authority level, military bodies, local people and means of transportation frequently travelling around the area.

4. The destruction of collected bombs-mines-explosive objects by the method of destruction by explosion, burning or burial must comply with technical procedures issued for destruction by explosion, burning or burial of bombs-mines-explosive objects with different types:

a) For types containing toxic or flammable substance, the destruction must comply with:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

- Technological procedures for handling of white phosphorus munitions regulated by the Military Chemical Institute/Military Chemical Arm.

b) For munitions to be destroyed by technological procedures regulated by the General Department of Engineering:

- Technological procedures for destruction by explosion of piercing warhead.

- Technological procedures for destruction by explosion of hollow piercing warhead.

- Technological procedures for burning destruction of bullets.

- Technological procedures for destruction by explosion of warhead of shells, trunk of mortar shells and antipersonnel, bursting – antipersonnel DKZ shells.

- Technological procedures for burning destruction of 105mm, 155mm, 175mm shells;

- Technological procedures for destruction by explosion of anti-personnel grenade.

c) For types of bombs which are destroyed by the technological Procedures regulated by the General Department of Engineering:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

- Technological Procedures for destruction by explosion of MK81, MK82 bombs.

d) For types of mine, destruction is in accordance with technological Procedures for handling Engineering weapons regulated by the Engineering arm.

Chapter 6.

TECHNICAL INSPECTION AND MONITORING, ACCEPTANCE AND HANDOVER

Article 32. Inspection of works quality

1. The inspection of quality of DHBMEO performance of units must be done regularly and continuously. This work is carried out by technicians of all levels and experts of Engineering arm who perform their tasks as planned and directly managed by the inspection Committee under the management of Engineering arm.

2. The functional bodies of the Ministry of Defense that are tasked must carry out the inspection of quality of DHBMEO performed by the units in the army.

3. The inspection is done by the probability method in the total area where DHBMEO is performed. In general, the inspected area is not less than 1% of the total area where DHBMEO has been performed. Upon inspection, if ≥ 0,3% of a number of signals is found left out as per survey data ( with a size ≥ 3cm x 3cm regardless of bombs-mines-explosive objects) at a depth of > 0,3m, the performing unit must re-perform its task.

4. The investors are also responsible for coordinated organization or self-organization of Technical supervision of DHBMEO performance under the approved plan.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

1. The Technical supervision is to help the command of performance on schedule and ensure quality and absolute safety. The Technical supervision shall be undertaken by one or a number of technicians (depending the scale of works) of the performing unit. The Technical supervision must be done during DHBMEO performance.

2. Duties of technical supervisors:

a) Supervise the DHBMEO performance in accordance with the approved plan and techniques of performance.

b) Supervise the range and area where DHBMEO has been performed, a number of signals handled, volume of cut trees, volume of digged soil for signal handling, a number of bombs-mines-explosive objects of various types detected in a day. Sign for confirmation on diary of DHBMEO performance and take responsibility for their confirmation on both volume and quality of work they have confirmed.

3. Technical supervisors must:

a) Be regularly present at the site, inspect, urge and provide instructions on performance in accordance with the plan, technical procedures, safety rules and seriously correct faults during the performance.

b) Grasp the range, volume and area of DHBMEO of their unit and avoid omission of area due to any reason; regularly inspect the quality of completed work and resolutely require the performing unit to re-perform detection in areas which ensure no quality

c) The technical supervisors must take responsibility before site commander for the quality of completed work of the unit under their supervision. In addition to responsibility for making regular report on the supervision result to the site commander, they also make periodic reports to the head of unit.

Article 34. Acceptance and handover

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

a) Inspecting the quality of work performed by the probability inspection method at some places (usually with size 20m x 20m) with the number of inspected area accounted for about 1% of the total area which has been detected.

b) Inspecting stakes used to mark area and making comparison with finished plan of area where the detection has been done, inspecting volume of work done. Making necessary records of acceptance of work items and signing such records at the site.

2. After technical acceptance, organizing the handover of entire site where DHBMEO has been performed between the legal representative of parties concerned. The acceptance and handlover dossier consists of:

a) Acceptance record to put the finished works items into use.

b) Acceptance record of working volume of DHBMEO

c) Technical acceptance record at the site.

d) Site handover record where DHBMEO has been performed

e) Finished outline for space where DHBMEO has been performed.

f) Commitment to safety assurance for space where DHBMEO has been performed.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

h) Destruction record of detected bombs-mines-explosive objects

Chapter 7.

SAFETY RULES

Article 35. General safety rules

1. All work items in the tasks of DHBMEO must be done on the basis of approved performance plan. The steps of implementation must be organized closely and uniformly commanded in accordance with order and procedure. Intentional change of technical procedure for DHBMEO is strictly prohibited. In case of compulsory change of some steps in the approved procedure, there must be a written approval from the competent authorities.

2. The site commander is the person who shall take direct responsibility before his superior and law for proper implementation of performance plan, technical procedures, safety rules and ensure no bombs-mines-explosive objects left; complete tasks on schedule and ensure absolute safety for people, machinery and equipment... during the DHBMEO performance as well as permit constructional performance and long-term use of works in the future.

3. It is required to respect the cooperation with the authorities, the local military bodies at all levels upon implementation of DHBMEO tasks.

4. When performing DHBMEO, the collected bombs-mines-explosive objects must be stored and preserved: such collected bombs-mines-explosive objects must be sorted and arranged separately in each different in the storage. There must be separate storage area for explosive and fire equipment. The storage of collected bombs-mines-explosive objects must not be placed near residential area, military base and protected and guarded strictly in accordance with regulations on guard of weapon depot.

Article 36. Safety rules in detection and handling of bombs-mines-explosive objects

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

2. When doing area clearance by way of burning, there must be guarding stations around area and people without duty are not allowed to enter the area under performance. It is necessary to wait for 04 hours after burning to enter such burnt area to implement the next work.

3. Before each working shift, the technician must inspect the technical conditions of all equipment in accordance with requirements.

4. Each working shift of DHBMEO is 06 consecutive hours totally. One person using detector must not work 02 consecutive shift in a day.

5. Arbitrary traveling in the area of DHBMEO is not allowed.

6. Do not raise pennon, drop buoy to mark the signals at the right signal center. Do not intentionally move obstacles and other objects in the area with suspected mines without careful inspection.

7. Only one person is allowed to handle the signals. When detecting strange bombs-mines-explosive objects, keep as-it-is at site and promptly report it to the direct commander to take suitable handling measures.

8. Do not bring the collected bombs-mines-explosive objects while detection to home and living places.

9. People, animals as well as means of transportation without duty are not allowed to enter area under the DHBMEO performance. Do not smoke and drink beverages with stimulants while on duty of DHBMEO.

10. The collection and destruction of bombs-mines-explosive objects are only done at the end of working shift.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

1. Only collecting and transporting for destruction the bombs-mines-explosive objects which ensure safety during collection and transport. In case there are bombs-mines-explosive objects not ensuring safety in transport and destroyed on the spot, ask for direction and written consent of the competent authorities. Such bombs-mines-explosive objects shall only be transported for destruction after applying special technical measures for safety.

2. The vehicles used to transport bombs-mines-explosive objects to the destruction site must have wooden body. Dump trucks are not allowed. The vehicles must be in good condition and drivers must be highly skilled, careful, self-controlled and courageous. The vehicle body must be lined with sand layer ≥ 25cm thick. Do not put gas and oil together on the vehicle body upon transporting bombs-mines-explosive objects.

3. The bombs-mines-explosive objects must be placed horizontally with driving directions on vehicles and there must be chocks to prevent bombs-mines-explosive objects from touching each other. The safe parts of fuses must be chocked or fastened to prevent their operation.

4. Only allowing a maximum of 3 persons including driver, driver assistant (as needed) and an escort on the vehicles used to transport bombs-mines-explosive objects.

5. The vehicles transporting bombs-mines-explosive objects must not pass cities with crowded people. In case of compulsory passing, there must be a written approval from the competent authority but such vehicles must travel at night when there are less people on the way. The route must be closely discussed with responsible bodies. The vehicles must not stop or park at crowded places or near areas with warehouses within a radius of danger.

6. When destroying bombs-mines-explosive objects, it is required to absolutely comply with safety rules about use of explosives regulated by the Engineering arm.

7. The location for destruction of collected bombs-mines-explosive objects must be approved by the competent authorities that have approved the plans for DHBMEO performance.

8. The area with site for destruction of bombs-mines-explosive objects must have safety guarding stations at required places. There must be safe sheltering places for units performing the destruction by explosion for commander of destruction site and guarding stations.

9. Only inspecting the safety of the destruction hole 15 minutes after explosion and peforming the next work.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

11. After finishing each destruction by explosion, inspect the safety of the entire area of destruction site before receding.

When performing tasks of detection, collection, transport and destruction of bombs-mines-explosive objects, it is required to record daily performance dairy correctly and meticulously and store data by security mode and fighting diary.

;

Quyết định 95/2003/QĐ-BQP về “Quy trình kỹ thuật thăm dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ” do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành

Số hiệu: 95/2003/QĐ-BQP
Loại văn bản: Quyết định
Nơi ban hành: Bộ Quốc phòng
Người ký: Phùng Quang Thanh
Ngày ban hành: 07/08/2003
Ngày hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Văn bản được hướng dẫn - [0]
Văn bản được hợp nhất - [0]
Văn bản bị sửa đổi bổ sung - [0]
Văn bản bị đính chính - [0]
Văn bản bị thay thế - [0]
Văn bản được dẫn chiếu - [0]
Văn bản được căn cứ - [1]
Văn bản liên quan ngôn ngữ - [1]

Văn bản đang xem

Quyết định 95/2003/QĐ-BQP về “Quy trình kỹ thuật thăm dò tìm, xử lý bom-mìn-vật nổ” do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành

Văn bản liên quan cùng nội dung - [2]
Văn bản hướng dẫn - [0]
Văn bản hợp nhất - [0]
Văn bản sửa đổi bổ sung - [0]
Văn bản đính chính - [0]
Văn bản thay thế - [2]
Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Tài khoản để biết được tình trạng hiệu lực, tình trạng đã bị sửa đổi, bổ sung, thay thế, đính chính hay đã được hướng dẫn chưa của văn bản và thêm nhiều tiện ích khác
Loading…