Bộ lọc tìm kiếm

Tải văn bản

Lưu trữ Góp ý

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • Tiếng anh
  • Lược đồ

ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 1993/QĐ-UBND

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 4 năm 2014

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN “PHÁT TRIỂN QUAN HỆ LAO ĐỘNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2014 - 2020”

CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;

Căn cứ Bộ Luật Lao động năm 2012 và Luật Công đoàn năm 2012;

Căn cứ Quyết định số 1129/QĐ-TTg ngày 18 tháng 8 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Kế hoạch triển khai Chỉ thị số 22-CT/TW ngày 05 tháng 6 năm 2008 của Ban Bí thư về tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp.

Căn cứ Kế hoạch số 7804/KH-UBND ngày 16 tháng 12 năm 2008 của Ủy ban nhân dân Thành phố về thực hiện Thông tri số 17-TT/TU ngày 09 tháng 10 năm 2008 của Ban Thường vụ Thành ủy về tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp theo Chỉ thị số 22-CT/TW của Ban Bí thư;

Căn cứ Thông báo số 11-TB/BCĐQHLĐ ngày 20 tháng 6 năm 2013 của Thường trực Ban Chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố về nội dung kết luận chỉ đạo của Phó Bí thư Thành ủy, Trưởng Ban Chỉ đạo tại cuộc họp giao ban quý 3 năm 2013;

Căn cứ Công văn số 09-CV/BCĐQHLĐ ngày 15 tháng 4 năm 2014 của Thường trực Ban Chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố về thống nhất phê duyệt Đề án “Phát triển quan hệ lao động tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014 - 2020”;

Xét đề nghị của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tại Tờ trình số 15078/TTr-SLĐTBXH-LĐ ngày 14 tháng 11 năm 2013,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Nay phê duyệt kèm theo Quyết định này Đề án “Phát triển quan hệ lao động tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014 - 2020”.

Điều 2.

- Giao Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với các Sở - ngành. Đoàn thể Thành phố, Ủy ban nhân dân các quận, huyện và các cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan triển khai, tổ chức thực hiện Đề án đã được phê duyệt trên địa bàn Thành phố theo đúng quy định; phối hợp với Liên đoàn Lao động Thành phố lựa chọn, hướng dẫn, hỗ trợ các cơ quan, đơn vị, các quận, huyện và các doanh nghiệp thực hiện điểm, thí điểm các nội dung nhiệm vụ, giải pháp được phân công trong Đề án; phối hợp với Trung tâm hỗ trợ phát triển quan hệ lao động thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội giám sát, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các hoạt động của Đề án; tổng hợp, đánh giá tình hình thực hiện Đề án, định kỳ hàng năm báo cáo kết quả trình Ủy ban nhân dân Thành phố để báo cáo Thành ủy, Chính phủ; phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện Đề án, tham mưu Thành ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố việc nhân rộng các mô hình thí điểm, làm điểm trên địa bàn Thành phố.

- Ban Quản lý các Khu Chế xuất và Công nghiệp Thành phố, Ủy ban nhân dân các quận, huyện xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Đề án “Phát triển quan hệ lao động tại Thành phố Hồ Chí Minh”; tổ chức tuyên truyền, phổ biến rộng rãi về ý nghĩa, mục tiêu và nội dung của Đề án cho người lao động, người sử dụng lao động và nhân dân trên địa bàn; hướng dẫn các đơn vị cơ sở, các doanh nghiệp, người lao động tham gia thực hiện Đề án.

- Đề nghị Liên đoàn Lao động Thành phố xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Đề án; phối hợp với các Sở - ngành liên quan hướng dẫn các cấp công đoàn thực hiện các nội dung của Đề án.

- Hàng năm, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Liên đoàn Lao động Thành phố và các Sở - ngành liên quan thẩm định dự toán kinh phí thực hiện Đề án trình Ủy ban nhân dân Thành phố xem xét, phê duyệt.

- Đề nghị Ban Chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố chỉ đạo các cấp ủy, cơ quan, tổ chức có liên quan để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Đề án thuộc phạm vi trách nhiệm của cấp ủy, cơ quan và tổ chức.

Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

Điều 4. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh vả Xã hội, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư, Giám đốc Sở Tài chính, Trưởng Ban Quản lý các Khu Chế xuất và Công nghiệp Thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các quận, huyện, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

 


Nơi nhận:
- Như Điều 4;
- Thủ tướng Chính phủ (để báo cáo);
- Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội;
- Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam;
- Trung tâm Hỗ trợ phát triển quan hệ lao động (Bộ LĐ-TB&XH);
- Thường trực Thành ủy;
- Thường trực HĐND Thành phố;
- TTUB: CT, các PCT;
- Ủy ban MTTQ Việt Nam TP;
- Văn phòng Thành ủy;
- Ban Dân vận Thành ủy;
- Ban Tuyên giáo Thành ủy;
- Phòng TM&CN VN - Chi nhánh TPHCM;
- Sở Nội vụ, Sở Tư pháp;
- Sở Xây dựng, Sở Y tế;
- Sở VH, TT&DL, Sở TT&TT;
- Hội LHPN TP; LĐLĐ TP;
- Thành Đoàn TNCS HCM:
- Thành viên BCD XDQHLĐ TP và Tổ giúp việc;
- VPUB: CPVP; Các Phòng CV;
- Lưu: VT, (VX-TC) D.

KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH




Hứa Ngọc Thuận

 

ĐỀ ÁN

PHÁT TRIỂN QUAN HỆ LAO ĐỘNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2014 - 2020
(Ban hành kèm theo Quyết định số 1993/QĐ-UBND ngày 23 tháng 4 năm 2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố)

I. PHẦN MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết của Đề án

Xây dựng và phát triển quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp có ý nghĩa về nhiều mặt: tạo cơ sở cho việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động và người sử dụng lao động; góp phần tạo dựng môi trường đầu tư và kinh doanh lành mạnh, ổn định và đảm bảo an ninh chính trị, trật tự xã hội. Đây cũng là một yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Yêu cầu này đã được Ban Bí thư chỉ đạo tại Chỉ thị số 22-CT/TW ngày 05 tháng 6 năm 2008 về tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp; đồng thời được luật hóa thêm một bước trong Bộ luật Lao động và Luật Công đoàn đã được Quốc hội thông qua tháng 6 năm 2012.

Hiện nay, tuy nền kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới, nhưng vẫn còn một khoảng cách giữa nguyên tắc hoạt động của quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và trong thực tiễn. Vì vậy, khi các hoạt động kinh doanh thực sự bước vào thị trường đã phát sinh những vấn đề về quan hệ lao động cần được tiếp tục xử lý. Từ những yêu cầu trên, cần thiết phải xây dựng Đề án về phát triển quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ mang tính tổng thể cho những năm trước mắt và định hướng đến năm 2020, chuẩn bị tiền đề cho những năm tiếp theo.

Kinh nghiệm từ những quốc gia phát triển cho thấy, quan hệ lao động lành mạnh là kết quả của một quá trình lâu dài và khó khăn. Quá trình phát triển quan hệ lao động trong một quốc gia sẽ gắn liền với quá trình công nghiệp hóa của nền kinh tế và thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa (như giai đoạn phát triển hiện nay của nền kinh tế Việt Nam) thường là giai đoạn khó khăn nhất trong quá trình hình thành và phát triển quan hệ lao động lành mạnh, do những cơ sở mang tính nền tảng cho sự phát triển này còn thiếu và yếu. Để quá trình này diễn ra ngắn hơn và giảm bớt các khó khăn, cần có định hướng phát triển đúng đắn và chú ý phát triển các cơ sở nền tảng ngay từ đầu, nếu thiếu các cơ sở nền tảng hoặc cơ sở nền tảng không tương xứng và không đi đúng định hướng ngay từ đầu thì con đường dẫn đến quan hệ lao động lành mạnh sẽ rất dài và khó khăn. Do vậy, Đề án này tập trung vào việc tạo dựng và phát triển các cơ sở nền tảng của quan hệ lao động; đồng thời đưa ra những giải pháp để giải quyết những vấn đề trước mắt và chuẩn bị cơ sở cho việc phát triển quan hệ lao động một cách bền vững về lâu dài.

2. Căn cứ đề xuất Đề án

a) Các văn bản chỉ đạo:

- Chỉ thị số 22-CT/TW ngày 05 tháng 6 năm 2008 của Ban Bí thư về tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp;

- Thông tri số 17-TT/TU ngày 09 tháng 10 năm 2008 của Ban Thường vụ Thành ủy về tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp theo Chỉ thị số 22-CT/TW của Ban Bí thư.

b) Cơ sở pháp lý:

- Bộ Luật Lao động năm 2012 và Luật Công đoàn năm 2012:

- Quyết định số 1129/QĐ-TTg ngày 18 tháng 8 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành kế hoạch triển khai Chỉ thị số 22-CT/TW ngày 05 tháng 6 năm 2008 của Ban Bí thư về tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp.

- Kế hoạch số 7804/KH-UBND ngày 16 tháng 12 năm 2008 Ủy ban nhân dân Thành phố về việc thực hiện Thông tri số 17-TT/TU ngày 09 tháng 10 năm 2008 của Ban Thường vụ Thành ủy về tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp theo Chỉ thị số 22-CT/TW của Ban Bí thư.

3. Mục tiêu của Đề án

Hướng tới mục tiêu lâu dài là xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ lao động, Đề án để ra hai mục tiêu như sau:

- Một là, căn cứ điều kiện thực tiễn, xây dựng mô hình vận hành của các cấu phần trong hệ thống quan hệ lao động phù hợp với quy định của pháp luật, đặc biệt là Bộ Luật Lao động năm 2012 và Luật Công đoàn năm 2012.

- Hai là, xây dựng và củng cố những yếu tố nền tảng trong hệ thống quan hệ lao động tại Thành phố, làm cơ sở cho việc phát triển quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong những năm tiếp theo.

II. THỰC TRẠNG VÀ CÁC VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỂ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ LAO ĐỘNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1. Thực trạng quan hệ lao động tại Thành phố Hồ Chí Minh

a) Tình hình chung:

Dân số trung bình của Thành phố năm 2012 là 7.791.789([1]) người, số người trong độ tuổi lao động là 5,4 triệu, chiếm 70% dân số thành phố, bình quân mỗi năm có khoảng 100.000 người bước vào độ tuổi lao động; số lao động đang làm việc trên 4,1 triệu người, chiếm tỷ lệ 76,4% số người trong độ tuổi lao động, trong đó số lao động làm việc trong các doanh nghiệp là hơn 2,45 triệu người. Thành phố có trên 30% lực lượng lao động là người ngoài tỉnh, làm việc trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể. Lao động làm việc trong khu vực phi chính thức chiếm tỷ trọng trên 40% tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân.

Theo niên giám thống kê năm 2012, trên địa bàn Thành phố có 104.641 doanh nghiệp đang hoạt động([2]) với 2.451.527 lao động làm việc([3]); có 384.148 cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể với 728.015 lao động làm việc.

b) Công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý Nhà nước và các giải pháp của Thành phố về quan hệ lao động:

- Nhằm triển khai có hiệu quả Chỉ thị số 22-CT/TW ngày 05 tháng 6 năm 2008 của Ban Bí thư về tăng cường công tác chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp, Ban Thường vụ Thành ủy đã ban hành Thông tri số 17-TT/TU ngày 07 tháng 10 năm 2008.

- Ủy ban nhân dân Thành phố cũng đã ban hành Kế hoạch số 7804/KH-UBND ngày 16 tháng 12 năm 2008 về thực hiện Thông tri số 17-TT/TU ngày 07 tháng 10 năm 2008 của Ban Thường vụ Thành ủy, trong đó xác định 06 nhóm giải pháp trọng tâm để giữ vững mối quan hệ lao động trên địa bàn, bao gồm: (1) Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về lao động trên địa bàn Thành phố; (2) Đẩy mạnh các giải pháp hỗ trợ, khuyến khích, động viên người lao động học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; (3) Tăng cường các hoạt động chăm lo đời sống văn hóa, tinh thần cho công nhân lao động: (4) Tập trung hỗ trợ, chăm lo đời sống vật chất cho công nhân lao động; (5) Tăng cường hoạt động của tổ chức công đoàn, nhất là công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp; (6) Đẩy mạnh thực hiện mô hình hoạt động cơ chế ba bên giữa đại diện người lao động, đại diện người sử dụng lao động và cơ quan chính quyền trên địa bàn Thành phố. Ngoài ra, Ủy ban nhân dân Thành phố cũng đã ban hành Quyết định số 133/2002/QĐ-UB ngày 18 tháng 11 năm 2002 về việc triển khai hệ thống “Đối thoại Doanh nghiệp - Nhà nước” và ban hành Quy chế tạm thời tổ chức và hoạt động của hệ thống “Đối thoại Doanh nghiệp - Nhà nước”.

- Sở Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Kế hoạch số 2799/KH-SLĐTBXH-LĐ ngày 17 tháng 4 năm 2009 với nội dung tăng cường công tác quản lý Nhà nước về lao động, phân công và giao nhiệm vụ cụ thể đối với các Phòng ban trực thuộc nhằm triển khai nhanh chóng, đồng bộ các giải pháp củng cố, ổn định tình hình quan hệ lao động trên địa bàn.

- Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc phối hợp với các đơn vị hoạt động văn hóa của Thành phố và Phòng Văn hóa - Thông tin các quận, huyện xây dựng và tổ chức các chương trình, hoạt động chăm lo đời sống văn hóa, tinh thần cho công nhân lao động tại các khu chế xuất, khu công nghiệp và những nơi tập trung đông công nhân lao động sinh sống.

- Liên đoàn Lao động Thành phố đã xây dựng Kế hoạch số 51/KH-LĐLĐ tổ chức quán triệt, phổ biến Chỉ thị số 22-CT/TW của Ban Bí thư cho cán bộ công đoàn và công nhân, viên chức - lao động, qua đó, chỉ đạo các cấp công đoàn chú trọng xác định và cụ thể hóa các nội dung hoạt động phù hợp để tổ chức triển khai thực hiện tại đơn vị.

- Thành Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã xây dựng Chương trình hành động số 04-CT/TV ngày 16 tháng 9 năm 2008 về tăng cường tổ chức hoạt động và xây dựng Đoàn, Hội tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh giai đoạn 2008 - 2012.

- Ủy ban nhân dân các quận, huyện cũng đã xây dựng kế hoạch, chương trình hành động cụ thể để tăng cường công tác quản lý Nhà nước về lao động trên địa bàn; thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Kinh tế với Liên đoàn Lao động và Bảo hiểm xã hội quận, huyện trong việc thanh tra, kiểm tra tình hình thực hiện pháp luật lao động; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động và thực hiện nhiều hoạt động chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của công nhân lao động trên địa bàn.

c) Về chủ thể quan hệ lao động:

Tính đến cuối năm 2012, Liên đoàn Lao động Thành phố quản lý 15.888([4]) tổ chức công đoàn cơ sở với 1.024.594 đoàn viên công đoàn (đạt tỷ lệ 79,25% so với số công nhân lao động ở các đơn vị có tổ chức công đoàn), trong đó có 12.517 tổ chức công đoàn doanh nghiệp ngoài nhà nước (chiếm tỷ lệ 74,87%) với 850.642 đoàn viên. Công tác chăm lo đời sống cho người lao động đã được Liên đoàn Lao động các cấp phát động như: chăm lo Tết, trợ giúp cải thiện về nhà ở (giai đoạn 2010 - 2014), phong trào Mùa xuân (nội dung chủ yếu là thực hiện quy chế dân chủ cơ sở), tư vấn pháp luật cho người lao động thông qua các Trung tâm tư vấn pháp luật... cùng các hoạt động nằm trong chương trình xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh như: Tháng Công nhân, chương trình Gặp gỡ đối thoại, Đồng hành cùng doanh nghiệp, Bàn tay vàng, Cùng công nhân vượt khó...

Về tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động: tại Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phía Nam là cơ quan đại diện cho người sử dụng lao động. Bên cạnh đó, có nhiều Hiệp hội doanh nghiệp được tổ chức theo quốc gia, lãnh thổ hoặc theo ngành, nghề, tuy chưa được thừa nhận về mặt pháp lý hoạt động tại Việt Nam nhưng trên thực tế, những vụ việc liên quan đến các doanh nghiệp thành viên, các Hiệp hội này đứng ra đại diện cho các thành viên để trao đổi, tham vấn với các cơ quan có liên quan của Trung ương cũng như của Thành phố về cơ chế, chính sách và trong quan hệ lao động.

đ) Về tình hình đối thoại, thương lượng và thỏa ước lao động tập thể:

Theo số liệu thống kê, từ năm 2002 đến nay, ngành Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố đã tiếp nhận 8.395 lượt đăng ký thỏa ước lao động tập thể. Phần lớn các thỏa ước được ký kết và đăng ký theo quy định pháp luật nhưng chưa thật sự thể hiện ý chí của hai bên trong việc thực hiện các quyền và lợi ích trong quan hệ lao động vì các thỏa ước này không phải là kết quả của quá trình thương lượng giữa đại diện tập thể lao động và người sử dụng lao động- Nội dung bản thỏa ước chủ yếu là những điều, khoản sao chép lại những quy định của pháp luật hiện hành hoặc chỉ thể hiện một chiều ý chí của người sử dụng lao động. Điều đó làm mất đi ý nghĩa công cụ điều hòa quan hệ giữa hai bên trong quan hệ lao động của thỏa ước và điều đó cũng phần nào giải thích lý do vì sao ở những doanh nghiệp có thỏa ước, thậm chí trong đó có những điều khoản có lợi hơn cho người lao động nhưng đình công vẫn xảy ra. Trong số 175 vụ đình công xảy ra từ thời điểm tháng 01 đến cuối tháng 8 năm 2011 trên địa bàn Thành phố thì có đến 123 trường hợp doanh nghiệp đã xây dựng thỏa ước lao động tập thể nhưng vẫn xảy ra đình công, thậm chí đình công về những nội dung dã được quy định trong thỏa ước.

đ) Về tình hình tranh chấp lao động và đình công:

Từ giữa năm 2008 đến nay, các cuộc đình công diễn ra mang tính ôn hòa hơn, mức độ mâu thuẫn, tranh chấp bớt gay gắt hơn so với các cuộc đình công năm 2007, tình trạng kích động, đập phá tài sản doanh nghiệp giảm nhiều. Năm 2009, toàn Thành phố xảy ra 70 vụ đình công (giảm đáng kể so với năm 2008 là 198 vụ); đến năm 2010 thành phố xảy ra 62 vụ (giảm 08 vụ so với năm 2009). Riêng năm 2011, số cuộc tranh chấp lao động tập thể, đình công tăng đột biến lên đến 200 vụ, nguyên nhân do tác động của tình trạng lạm phát, chỉ số giá sinh hoạt tăng mạnh ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống công nhân, trong khi doanh nghiệp không kịp thời cải thiện tiền lương để đảm bảo cuộc sống của người lao động.

e) Về tình hình giải quyết tranh chấp lao động, đình công:

Quan điểm chung khi giải quyết các tranh chấp lao động là các cuộc tranh chấp dù lớn hay nhỏ đều phải được giải quyết kịp thời ngay tại địa phương, không để xảy ra lây lan, ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư và trật tự an toàn xã hội. Hiện nay, các tranh chấp lao động tập thể chủ yếu được giải quyết thông qua hoạt động trung gian hòa giải của Tổ công tác liên ngành, thực hiện theo Quy chế phối hợp giải quyết bước đầu các vụ đình công không đúng quy định pháp luật lao động trên địa bàn Thành phố, được ban hành kèm theo Quyết định số 35/2006/QĐ-UBND ngày 07 tháng 3 năm 2006 của Ủy ban nhân dân Thành phố. Tổ công tác liên ngành được Chủ tịch Ủy ban nhân dân các quận, huyện thành lập bao gồm đại diện các phòng ban, Liên đoàn Lao động, các đoàn thể tại địa phương và đại diện một số Sở - ngành liên quan, là công cụ hỗ trợ, giúp địa phương chủ động giải quyết nhanh chóng các tranh chấp lao động, tránh để chậm trễ, lây lan kéo dài.

Khi tranh chấp lao động tập thể, đình công xảy ra, Tổ công tác liên ngành quận, huyện tiếp xúc với người lao động và chủ doanh nghiệp để làm cầu nối thông tin và hỗ trợ quá trình thương lượng giữa hai bên. Nếu phát hiện có vi phạm pháp luật lao động, Tổ công tác sẽ tiến hành nhắc nhở hoặc đề nghị xử lý theo quy định. Trong những trường hợp tranh chấp lao động phức tạp, kéo dài hoặc có nhiều người tham gia, song song với công tác lấy ý kiến người lao động tại nơi làm việc, lực lượng chính trị nòng cốt tại địa phương dưới sự chỉ đạo của cấp ủy, phát huy vai trò tích cực trong công tác dân vận, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng người lao động trong khu nhà trọ nơi tập trung công nhân lao động, vận động thuyết phục người lao động trở lại nơi làm việc, thực hiện quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định, pháp luật. Thực tế trong một số vụ tranh chấp lao động đã xuất hiện trường hợp người lao động từ chối không thương lượng hoặc gây khó khăn trong việc lấy ý kiến tập thể người lao động, đòi hỏi Liên đoàn Lao động quận, huyện phải nâng cao vai trò của mình trong việc tập hợp người lao động.

g) Về thiết chế hòa giải, trọng tài lao động:

- Hòa giải viên lao động: Từ năm 2008 nay, Thành phố đã hình thành được đội ngũ hòa giải viên lao động ở 24 quận, huyện. Tổng số hòa giải viên đã được công nhận là 113 người([5]), số thực tế hiện còn đang hoạt động là 50 người. Tổng số vụ tranh chấp lao động được các hòa giải viên tiếp nhận hòa giải kể từ ngày được bổ nhiệm khá lớn với 6.284 vụ, trong đó có 5.715 vụ là tranh chấp cá nhân được hòa giải thành (tỷ lệ 70,6%) và 569 vụ tranh chấp tập thể được hòa giải thông qua Tổ công tác liên ngành, góp phần tích cực trong việc ổn định tình hình, quan hệ lao động chung của Thành phố.

Tuy nhiên, so với yêu cầu thực tế thì đội ngũ hòa giải viên hiện nay vẫn còn khá mỏng và bố trí không đồng đều giữa các địa bàn([6]); chưa huy động được đông đảo đội ngũ hòa giải viên là các cá nhân thuộc nhiều thành phần xã hội khác nhau tham gia hòa giải (hiện 79% hòa giải viên là cán bộ, công chức của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Liên đoàn Lao động quận, huyện); chưa có cơ chế để Thành phố thực hiện điều phối hòa giải viên giữa các quận, huyện nhằm tăng cường cho việc giải quyết các tranh chấp, phát huy tối đa khả năng của các hòa giải viên; việc quy định về giao toàn bộ quyền quản lý hòa giải viên cho cấp quận, huyện có yếu tố chưa phù hợp; đặc biệt là trong tác nghiệp hòa giải của các hòa giải viên hiện nay chủ yếu dừng lại ở hòa giải các tranh chấp cá nhân mà chưa phát huy được vai trò trong hòa giải các tranh chấp tập thể. Những bất cập nêu trên cần có giải pháp giải quyết phù hợp để nâng chất hoạt động của lực lượng hòa giải viên, góp phần hạn chế các cuộc đình công tự phát tiếp tục xảy ra.

- Trọng tài lao động: Cùng với thiết chế hòa giải, thiết chế trọng tài lao động cũng được Thành phố thành lập và kiện toàn([7]). Tuy nhiên, từ khi được kiện toàn đến nay, Hội đồng trọng tài lao động Thành phố chưa nhận được bất cứ yêu cầu nào về giải quyết tranh chấp lao động tập thể xảy ra trên địa bàn (do không có một cuộc tranh chấp lao động nào dược thực hiện theo đúng quy trình thủ tục pháp luật quy định). Hoạt động chủ yếu của Hội đồng mới dừng lại ở việc hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ hòa giải các cuộc tranh chấp lao động cho Hội đồng hòa giải cơ sở, hòa giải viên và phối hợp tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động.

h) Về chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của người lao động ở các khu công nghiệp tập trung:

- Tình hình nhà ở cho người lao động: Thực hiện chương trình phát triển nhà ở và các công trình công cộng phục vụ người lao động tại các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, Ủy ban nhân dân Thành phố đã ban hành Quyết định số 4372/QĐ-UBND ngày 21 tháng 9 năm 2009 về ban hành kế hoạch xây dựng nhà lưu trú cho công nhân đang làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và cụm công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 - 2015, nhằm đáp ứng khoảng 50% nhu cầu chỗ ở cho công nhân lao động theo quy định tại Quyết định số 66/2009/QĐ-TTg ngày 24 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ, với hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ, đảm bảo các khu chức năng và không gian phục vụ nhu cầu ở, sinh hoạt, hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao nhằm tạo môi trường sống văn minh và đảm bảo an ninh trật tự cho công nhân. Tính đến năm 2011, trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có 1.491.704m2 sàn được đầu tư xây dựng, đáp ứng khoảng 451.658 chỗ ở cho công nhân, trong đó, các doanh nghiệp đầu tư xây dựng là 190.380m2 (tỷ lệ 13,4%), đáp ứng khoảng 32.800 chỗ ở, phần còn lại do các hộ gia đình, cá nhân đầu tư xây dựng.

Về tạo quỹ đất xây dựng nhà lưu trú công nhân: đến nay, đã có 15,3 ha đất dành để xây dựng nhà lưu trú công nhân tại Quận 2, Quận 9, quận Thủ Đức và quận Bình Tân. Hiện nay, Thành phố đang có kế hoạch tạo thêm quỹ đất xây dựng nhà lưu trú công nhân tại Quận 7, huyện Nhà Bè và huyện Bình Chánh.

- Các công trình công cộng phục vụ đời sống công nhân lao động:

+ Nhà giữ trẻ cho con công nhân: Ủy ban nhân dân Thành phố đã tiến hành phê duyệt Đề án mỗi khu chế xuất, khu công nghiệp có một nhà trẻ cho con công nhân. Hiện đã xác định 06/17 khu chế xuất, khu công nghiệp để xây dựng trường mầm non([8]).

+ Xây dựng cửa hàng tiện ích: Ban Quản lý các Khu Chế xuất và Công nghiệp Thành phố đã phối hợp với Sở Công Thương, Công ty Phát triển hạ tầng tìm kiếm quỹ đất xây dựng siêu thị, cửa hàng tiện ích và tham gia chương trình bình ổn giá phục vụ công nhân. Đến nay đã có 07 siêu thị và 03 cửa hàng tiện ích tại 10/17 khu chế xuất, khu công nghiệp để phục vụ công nhân.

+ Xây dựng phòng khám đa khoa: Hiện nay đã có 05 khu chế xuất, khu công nghiệp xây dựng phòng khám đa khoa([9]); 04 khu chế xuất, khu công nghiệp gần bệnh viện nên không xây dựng phùng khám([10]). Ban Quản lý các Khu Chế xuất và Công nghiệp Thành phố đã lập kế hoạch bổ sung và xây dựng mới phòng khám tại các khu chế xuất, khu công nghiệp còn lại (hiện đang kết hợp với Bệnh viện các quận, huyện khám chữa bệnh cho công nhân).

+ Xây dựng các bếp ăn tập thể: Ban Quản lý các Khu Chế xuất và Công nghiệp Thành phố đã phối hợp Sở Y tế và Công ty Phát triển hạ tầng xây dựng các bếp ăn tập thể đạt tiêu chuẩn tại 05/17 khu chế xuất, khu công nghiệp([11]).

+ Xây dựng Trung tâm sinh hoạt công nhân: Hiện nay có 03/17 khu chế xuất, khu công nghiệp đã xây dựng và đưa vào hoạt động Trung tâm sinh hoạt công nhân([12]). Các Trung tâm này có phòng học, phòng đọc sách, phòng internet, phòng karaoke, phòng thể thao đa năng, sân khấu để tổ chức các hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao... Văn phòng Hỗ trợ thanh niên công nhân tại các Trung tâm thường xuyên phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể và các doanh nghiệp tổ chức nhiều hoạt động vui chơi, giải trí lành mạnh cho công nhân như: tư vấn pháp luật, tư vấn sức khỏe miễn phí, tổ chức sân chơi cuối tuần và các chương trình giao lưu văn nghệ, thể dục - thể thao cho thanh niên công nhân, chương trình chiếu phim lưu động, chương trình hát với công nhân, chương trình bán hàng với giá ưu đãi, chương trình “Phiên chợ công nhân”,…

2. Đánh giá kết quả phát triển quan hệ lao động tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua

a) Những mặt được:

- Thành ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy, chính quyền và cả hệ thống chính trị các cấp trong việc thực hiện các mục tiêu, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về xây dựng và phát triển quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ. Nhận thức chung của các cấp, các ngành cũng như của xã hội về quan hệ lao động đã được nâng cao hơn. Năng lực hoạt động của các cơ quan chuyên môn trong lĩnh vực quan hệ lao động từng bước được tăng cường.

- Nhiều giải pháp được Thành phố ban hành đồng bộ và thống nhất đã phát huy hiệu quả tích cực, ý thức chấp hành pháp luật của các doanh nghiệp được tốt hơn, giảm thiểu được 50 vụ vi phạm pháp luật lao động, góp phần đảm bảo quyền lợi của công nhân, người lao động. Tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện các yêu cầu về việc thành lập tổ chức công đoàn, ký thỏa ước lao động, đăng ký thang bảng lương, nội quy lao động... được nâng lên. Các giải pháp mang tính phúc lợi hỗ trợ cho phát triển quan hệ lao động bước đầu đã phát huy kết quả tích cực. cải thiện một bước vấn đề nhà ở, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động ngày càng tốt hơn.

- Thị trường lao động của Thành phố về cơ bản được bảo đảm duy trì ổn định; phần lớn các cuộc đình công được giải quyết nhanh chóng với sự tham gia của nhiều ban, ngành khác nhau, không để tình trạng đình công kéo dài, gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

b) Một số tồn tại và thách thức:

Trên cơ sở đánh giá các cấu phần của hệ thống quan hệ lao động hiện nay của Thành phố Hồ Chí Minh có thể rút ra 04 tồn tại và thách thức sau:

(1) Cơ quan quản lý Nhà nước và các thiết chế quan hệ lao động chưa phát huy được hiệu quả trong việc điều chỉnh, dẫn dắt, quản lý và thúc đẩy quan hệ lao động lành mạnh.

- Các cơ quan Nhà nước tuy đã có nhiều cố gắng, nhưng do quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề mới nên một số giải pháp, chính sách đưa ra chưa phù hợp với thực tiễn. Các giải pháp tác động vào quan hệ lao động thiên về mệnh lệnh, hành chính, thiếu hẳn những giải pháp mang tính hỗ trợ của Nhà nước.

- Các cơ chế, thiết chế mang tính hỗ trợ của Nhà nước trong xây dựng quan hệ lao động lành mạnh còn thiếu và chưa tương xứng, nên các cơ quan nhà nước chưa chủ động điều chỉnh và dẫn dắt quan hệ lao động, còn bị động, phụ thuộc vào tình hình khách quan, đặc biệt là đối với tình hình tranh chấp lao động tập thể và đình công.

Do các hạn chế nói trên của cơ quan quản lý Nhà nước nên những hoạt động tương tác giữa tập thể người lao động và người sử dụng lao động, nhất là quá trình thương lượng, tranh chấp lao động và đình công chủ yếu mang tính tự phát. Điều đó dẫn tới việc các chủ thể trong quan hệ lao động không sử dụng các thiết chế quan hệ lao động chính thức gồm hòa giải, trọng tài và tòa án, khiến hệ thống thiết chế này hầu như không phát huy tác dụng.

(2) Một số tổ chức công đoàn chưa thật sự phát huy được vai trò đại diện cho người lao động trong tương tác với người sử dụng lao động tại doanh nghiệp, còn lúng túng trong thương lượng thỏa ước lao động tập thể và trong tranh chấp lao động, đình công.

- Khi nền kinh tế Việt Nam chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì tính chất của quan hệ lao động trong khu vực tư nhân đã có những khác biệt căn bản so với quan hệ lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước trước đây. Bởi vậy, vai trò của tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp cũng như mối quan hệ giữa công đoàn cấp trên cơ sở với công đoàn cơ sở, với chủ doanh nghiệp và với người lao động cũng cần có những thay đổi cần bán. Trong những năm qua, công đoàn các cấp tuy đã tích cực đổi mới phương thức và nội dung hoạt động, nhưng vẫn chủ yếu là các hoạt động mang tính phong trào, thiên về chăm lo đời sống cho đoàn viên công đoàn, các hoạt động mang tính chất hỗ trợ trực tiếp cho công đoàn cơ sở và người lao động trong quan hệ lao động vẫn còn hạn chế và lúng túng.

- Tuy số lượng các tổ chức công đoàn cơ sở cũng như số lượng đoàn viên công đoàn phát triển nhanh trong những năm qua, nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, vai trò của công đoàn cơ sở trong việc xây dựng quan hệ lao động lành mạnh tại doanh nghiệp chưa được phát huy tương xứng. Vai trò đại diện và bảo vệ quyền lợi cho tập thể người lao động của công đoàn cơ sở trong quan hệ lao động, đặc biệt là trong việc thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể và xây dựng thang bảng lương còn hạn chế. Vẫn còn trường hợp công đoàn cơ sở đứng về phía người sử dụng lao động, chưa bảo vệ quyền lợi cho những người lao động mà mình là đại diện lại doanh nghiệp. Cho tới nay, chưa có cuộc đình công nào do công đoàn cơ sở tổ chức và lãnh đạo.

(3) Chưa có giải pháp hiệu quả để chủ động phòng ngừa tranh chấp lao động và giải quyết đình công.

- Mặc dù Thành phố đã thực hiện nhiều giải pháp để phòng ngừa tranh chấp lao động, đình công, nhưng các giải pháp chủ yếu mang tính hành chính, tập trung vào việc tăng cường thực hiện pháp luật (nghĩa là nhằm hạn chế tranh chấp lao động tập thể về quyền), còn thiếu các giải pháp phòng ngừa mang tính hỗ trợ (để hạn chế phát sinh tranh chấp lao động tập thể về lợi ích dẫn đến đình công); cũng như thiếu các giải pháp hỗ trợ trong những thời điểm dễ phát sinh đình công.

- Mặc dù cơ chế giải quyết đình công mang tính hành chính như hiện nay đã phát huy hiệu quả tích cực, kịp thời giải quyết khi đình công xảy ra, nhưng về lâu dài, cơ chế này có thể sẽ trở thành một trong những yếu tố khiến các cuộc đình công tiếp tục diễn ra không theo trình tự thủ tục pháp luật quy định và làm vô hiệu hóa các thiết chế quan hệ lao động (hòa giải, trọng tài, tòa án lao động), làm mất ý nghĩa của đối thoại, thương lượng và thỏa ước lao động tập thể và nhất là sẽ làm mất hoặc giảm sút vai trò của công đoàn cơ sở Trong quan hệ lao động.

- Về diễn giải và định hướng dư luận đối với hiện tượng đình công tự phát có lúc còn cảm tính, dẫn đến việc diễn giải chưa đúng với những nguyên tắc của quan hệ lao động theo quy định của pháp luật, dễ tạo thành tiền lệ cho các cuộc đình công tự phát tiếp tục xảy ra.

(4) Hoạt động đối thoại, thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể mang tính hình thức, đối phó, làm mất đi vai trò là hình thức tương tác căn bản của quan hệ lao động lành mạnh.

Trong những năm qua, do thiếu cơ chế hỗ trợ và các hướng dẫn cụ thể về nội dung và phương thức thực hiện, cũng như do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan (bao gồm cả nguyên nhân về pháp luật và chính sách) nên các quá trình đối thoại, thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể (vốn là những quá trình mang tính cơ bản, quan trọng để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, hợp tác tại doanh nghiệp) đã không được quan tâm, thúc đẩy thực hiện đi vào thực chất, làm cho những hoạt động này trở nên rất mờ nhạt và mang tính hình thức, không đóng góp hoặc đóng góp rất hạn chế vào việc xây dựng quan hệ lao động lành mạnh.

c) Nguyên nhân của những tồn tại:

- Nguyên nhân khách quan:

Tình hình quan hệ lao động của Việt Nam nói chung và của Thành phố nói riêng đang ở trong thời kỳ khó khăn nhất của quá trình phát triển, khi nền kinh tế bắt đầu bước vào thời kỳ công nghiệp hóa với bốn đặc trưng cơ bản về quan hệ lao động, đó là: (1) Các ngành sử dụng nhiều lao động giản đơn, lương thấp, điều kiện lao động khó khăn còn chiếm tỷ trọng lớn; (2) Nhận thức và tính liên kết, tính tổ chức của người lao động chưa cao nên dễ hành động tự phát; (3) Các thiết chế quan hệ lao động chưa phát triển tương xứng với yêu cầu; (4) Nhận thức chung của xã hội về quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa cao, thiên về cảm tính. Vì vậy, để cải thiện quan hệ lao động phát triển theo hướng hài hòa, ổn định và tiến bộ, cần phải có lộ trình thích hợp và kiên trì thực hiện với những giải pháp căn cơ, đồng bộ, phù hợp gắn với mức độ phát triển của quan hệ lao động.

- Nguyên nhân chủ quan:

+ Trong thời gian qua, Thành phố đã quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ theo dõi, tham mưu cho Thành ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố về quan hệ lao động tại nhiều cơ quan, đơn vị, tuy nhiên, đội ngũ nhân sự này chưa tương xứng với yêu cầu phát triển quan hệ lao động trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của một đô thị đặc biệt. Thành phố chưa có bộ phận và nhân sự chuyên trách, chuyên nghiệp để quản lý và hỗ trợ quan hệ lao động, đóng vai trò đầu tàu cho toàn bộ hệ thống quan hệ lao động vận hành và phát triển,

+ Phần lớn các giải pháp về phát triển quan hệ lao động hiện nay chủ yếu thiên về giải pháp hành chính, còn nhiều điểm chưa phù hợp với nguyên lý phát triển quan hệ lao động trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chưa phân biệt rõ các nhóm giải pháp tác động trực tiếp vào quan hệ lao động và các nhóm giải pháp nằm ngoài quan hệ lao động.

+ Cách tiếp cận vấn đề đối với quan hệ lao động hiện nay chưa mang tính hệ thống, chưa căn cứ vào bản chất của quan hệ lao động, chủ yếu dựa vào những vụ việc cụ thể nên việc xử lý một số tình huống trong thực tiễn còn mang tính cảm tính, nhất là trong việc giải quyết các cuộc đình công.

+ Còn thiếu các giải pháp mang tính chiều sâu, dài hạn và đồng bộ về phát triển quan hệ lao động, đi kèm với kế hoạch xây dựng bộ máy và nhân sự. Thiếu các giải pháp hiệu quả nâng cao nhận thức của người sử dụng lao động và người lao động về quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và các phép ứng xử trong quan hệ lao động theo quy định pháp luật.

III. ĐỊNH HƯỚNG ĐỀ XUẤT CÁC NHÓM GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN QUAN HỆ LAO ĐỘNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2020

1. Bối cảnh và nhận định về xu hướng phát triển quan hệ lao động tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014 - 2020

Giai đoạn 2014 - 2020 và những năm tiếp theo. Thành phố Hồ Chí Minh cùng với tỉnh Bình Dương và tỉnh Đồng Nai sẽ tiếp tục là những địa phương có mật độ tập trung công nghiệp cao nhất trong cả nước (tính trên cả 03 chỉ số là số lượng, mật độ các khu công nghiệp, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động và số lượng lao động làm thuê tại các doanh nghiệp này). Đây vẫn là 03 tỉnh, thành phố có quan hệ lao động sôi động nhất trong cả nước và tiếp tục là những địa phương “nóng” về quan hệ lao động.

Trong những năm tới, nhận thức về quan hệ lao động và khả năng liên kết, tổ chức của người lao động ngày một cao hơn. Đây sẽ là điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý nếu chủ động nắm bắt, dẫn dắt và điều chỉnh được sức mạnh liên kết này; ngược lại, nếu để sức mạnh liên kết này phát triển tự phát thì có thể hình thành những tác động mang tính tiêu cực.

Năm 2013, Luật Công đoàn và Bộ Luật Lao động chính thức có hiệu lực thi hành([13]), trong đó có nhiều điểm mới liên quan đến quan hệ lao động chưa được quy định trong văn bản pháp luật trước đây như: quá trình đối thoại và thương lượng; vai trò hỗ trợ của cơ quan Nhà nước, công đoàn cấp trên và tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động trong hoạt động thương lượng ở cấp doanh nghiệp... nên sẽ xuất hiện những yêu cầu mới, đặc biệt là yêu cầu về hỗ trợ trong quan hệ lao động.

2. Cách tiếp cận trong đề xuất các nhóm giải pháp phát triển quan hệ lao động của Thành phố Hồ Chí Minh

Trên cơ sở tôn trọng những nguyên tắc của quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường và khẳng định vai trò quản lý của Nhà nước, các giải pháp của Đề án được thiết kế dựa trên cách tiếp cận sau:

- Các nhóm giải pháp được đưa ra mang tính tổng thể theo cách tiếp cận hệ thống.

- Tập trung vào tính chất của các quá trình tương tác, thay vì tập trung vào kết quả như hiện nay, đặc biệt là đối với vấn đề thành lập công đoàn cơ sở và việc ký kết thỏa ước lao động tập thể.

- Xác định Nhà nước (theo nghĩa rộng) đóng vai trò chủ đạo trong việc quản lý, định hướng, dẫn dắt và hỗ trợ việc phát triển quan hệ lao động, trong đó nhấn mạnh Nhà nước không chỉ có vai trò quản lý, mà còn có vai trò hỗ trợ và dẫn dắt quan hệ lao động.

- Với sự quản lý của Nhà nước, các chủ thể trong quan hệ lao động thực hiện nghiêm pháp luật, đảm bảo quyền của đối tác theo quy định của pháp luật,

- Hai bên trong quan hệ lao động tự thỏa thuận các vấn đề về lợi ích thông qua đối thoại, thương lượng. Bên thứ ba, bao gồm cơ quan chức năng của Nhà nước và các tổ chức khác theo quy định của pháp luật có thể tham gia hỗ trợ quá trình đối thoại, thương lượng nếu hai bên yêu cầu.

- Các thiết chế về quan hệ lao động thực hiện các chức năng theo quy định của pháp luật một cách có hiệu quả và hiệu lực.

3. Một số vấn đề lý luận để làm rõ cơ sở đề xuất các nhóm giải pháp phát triển quan hệ lao động

Như trên đã phân tích, một trong những nguyên nhân chủ quan dẫn đến những tồn tại và thách thức trong quan hệ lao động hiện nay tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và trên bình diện cả nước nói chung là do nhận thức chưa đầy đủ về quan hệ lao động trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, để có cơ sở khoa học và sự đồng thuận chung trong việc đưa ra các giải pháp, cần đề cập đến một số vấn đề mang tính lý luận về quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, làm cơ sở vận dụng một cách thích hợp các nguyên tắc của quan hệ lao động phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam, cụ thể như sau:

a) Quan hệ lao động hoạt động như một hệ thống gồm các cấu phần có quan hệ biện chứng với nhau:

Khi nói tới quan hệ lao động tập thể là nói tới một hệ thống gồm 06 cấu phần chính gồm: (1) Các chủ thể, trong đó đặc biệt quan trọng là tổ chức công đoàn; (2) Hoạt động đối thoại, thương lượng và thỏa ước lao động tập thể; (3) Tranh chấp lao động và đình công; (4) Các thiết chế về quan hệ lao động, bao gồm: hòa giải, trọng tài, xét xử; (5) Cơ quan Nhà nước về quản lý và hỗ trợ quan hệ lao động; (6) Các yếu tố có liên quan (còn gọi là các yếu tố môi trường). Các cấu phần này của hệ thống quan hệ lao động gắn kết hữu cơ và có quan hệ nhân quả với nhau([14]), do đó, cần phải được xây dựng và vận hành một cách đồng bộ, không thể tách rời, trong đó yếu tố tổ chức công đoàn có đủ năng lực và vị thế để đại diện cho tập thể người lao động là yếu tố mang tính tiền đề.

Đề án được thiết kế theo cách tiếp cận hệ thống với 06 cấu phần nói trên, trong đó 05 cấu phần được coi là các yếu tố nền tảng của quan hệ lao động gồm: tổ chức công đoàn; các thiết chế quan hệ lao động, trong đó đặc biệt là thiết chế hòa giải; vai trò của Nhà nước, đặc biệt là vai trò hỗ trợ; hoạt động đối thoại, thương lượng và thỏa ước lao động tập thể; tranh chấp lao động và đình công. Còn cấu phần thứ 06 được coi là yếu tố hỗ trợ cho quan hệ lao động.

b) Quan hệ lao động có tính chất “quá trình” nên cần có cách tiếp cận thích hợp:

Quan hệ lao động là một lĩnh vực có đặc thù riêng. Đây không phải là một vấn đề mà là một quá trình, bao gồm các quá trình hoạt động của các cấu phần diễn ra bên trong quan hệ lao động, bao gồm: quá trình liên kết của các chủ thể, đặc biệt là quá trình liên kết của người lao động; quá trình đối thoại, tham vấn, thương lượng và ký thỏa ước; quá trình phát sinh tranh chấp và giải quyết tranh chấp, quá trình hòa giải, trọng tài, xét xử. Mỗi quá trình đều cho ra kết quả của quá trình đó([15]). Do vậy, các giải pháp về xây dựng và phát triển quan hệ lao động chính là những giải pháp nhằm làm lành mạnh hóa các quá trình nói trên. Nếu các chính sách về quan hệ lao động chỉ tập trung vào kết quả mà bỏ qua quá trình thì rất dễ dẫn tới bệnh hình thức.

Đề án được thiết kế với cách tiếp cận là tăng cường năng lực cho 03 chủ thể chính là tổ chức công đoàn, Cơ quan Nhà nước (quản lý và hỗ trợ) và hòa giải viên quận, huyện để 03 chủ thể này hỗ trợ hiệu quả cho 03 quá trình quan trọng là: quá trình liên kết của người lao động, quá trình đối thoại, thương lượng và quá trình giải quyết tranh chấp lao động và đình công.

c) Vai trò của Nhà nước trong quan hệ lao động là thực hiện đồng thời hai chức năng quản lý và hỗ trợ:

Quan hệ lao động luôn bao gồm hai phần là quyền và lợi ích, tương ứng với những nội dung mang tính bắt buộc và tự nguyện. Vai trò của Nhà nước đối với quan hệ lao động là thông qua những công cụ của Nhà nước để làm lành mạnh hóa cả hai phần này. Vì vậy, Nhà nước cần sử dụng các cơ chế và thiết chế của mình để đồng thời vừa thực hiện chức năng quản lý (thực thi luật pháp) bằng các biện pháp và cơ chế mang tính hành chính, vừa thực hiện chức năng hỗ trợ bằng các biện pháp và cơ chế phi hành chính.

Thực tế cho thấy, trong trường hợp doanh nghiệp không vi phạm pháp luật lao động thì vẫn xảy ra tranh chấp lao động, đình công, vì ngay cả khi doanh nghiệp thực hiện nghiêm pháp luật thì chỉ mới đảm bảo được quyền của người lao động (các chế độ được hưởng theo luật), trong khi đình công vẫn có thể xảy ra và xảy ra đúng luật, nếu có tranh chấp lao động tập thể về lợi ích, tức người lao động có những đòi hỏi về lợi ích cao hơn mức quy định của pháp luật. Trên cơ sở đó, Đề án đề xuất các giải pháp để cơ quan Nhà nước thực hiện đồng thời 02 chức năng quản lý và hỗ trợ đối với quan hệ lao động.

d) Đình công và giải quyết đình công có mối quan hệ qua lại biện chứng với nhau:

Khi đình công xảy ra thì tất yếu sẽ diễn ra quá trình giải quyết cuộc đình công đó. Pháp luật Việt Nam cũng như của các nước đều đưa ra các bước giải quyết một cuộc đình công nhưng với điều kiện là cuộc đình công đó diễn ra theo đúng trình tự pháp luật quy định([16]). Trên thực tế khi một cuộc đình công không theo trình tự pháp luật quy định (nhanh hơn, dễ hơn) mà người đình công vẫn đạt được toàn bộ hay một phần yêu sách, đòi hỏi của mình thì đó chính là yếu tố khiến người lao động tại doanh nghiệp cho rằng đình công không theo trình tự pháp luật quy định là dễ nhất, nhanh nhất và hiệu quả nhất.

Để có thể kiểm soát được vấn đề đình công, cần phải thay đổi cách tiếp cận đối với vấn đề này. Đề án được thiết kế nhằm "chuẩn hóa" quá trình giải quyết các cuộc đình công ở cả hai tình huống là tuân theo và không tuân theo trình tự thủ tục quy định để việc giải quyết đình công không trở thành một trong những tác nhân kích thích đình công tiếp theo.

đ) Cần phân biệt các yếu tố nằm trong quan hệ lao động và các yếu tố nằm ngoài quan hệ lao động:

Tất cả những yếu tố liên quan tới quyền và lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động, phát sinh từ việc thuê mướn lao động là những vấn đề nằm trong quan hệ lao động. Còn những yếu tố chỉ liên quan tới quyền lợi một bên và không gắn với quá trình thuê mướn lao động là những yếu tố nằm ngoài quan hệ lao động.

Những chính sách và giải pháp về quan hệ lao động là những chính sách và giải pháp tác động trực tiếp hay gián tiếp vào các yếu tố nằm bên trong quan hệ lao động như: tổ chức công đoàn (hay nói rộng ra là sự liên kết), đối thoại, thương lượng, tranh chấp lao động, đình công, tiền lương và điều kiện lao động... Còn những chính sách và giải pháp tác động đến nhà ở, đời sống văn hóa tinh thần, trợ giá thực phẩm cho người lao động.., nếu chỉ được thực hiện bởi Nhà nước mà không có sự tham gia của người sử dụng lao động (tức không có trách nhiệm gắn vào những chính sách này) thì đó không được coi là chính sách về quan hệ lao động, đó chỉ là chính sách về phúc lợi cho người lao động. Chính sách phúc lợi là tốt cho người lao động, nhưng không là chính sách căn bản về quan hệ lao động và tự thân nó không có tác động nhiều đến quan hệ lao động.

Đề án được thiết kế theo hướng vẫn tiếp tục thực hiện những chính sách phúc lợi cho người lao động, nhưng xác định rõ đây là những giải pháp nằm ngoài quan hệ lao động.

IV. CÁC NHÓM GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN QUAN HỆ LAO ĐỘNG VÀ PHÂN CÔNG THỰC HIỆN

Theo cách tiếp cận hệ thống, Đề án đề xuất 05 nhóm giải pháp, tương ứng với các cấu phần của hệ thống quan hệ lao động, trong đó bao gồm 04 nhóm nhằm phát triển các yếu tố cơ bản của hệ thống quan hệ lao động và nhóm thứ năm là nhóm giải pháp tuy nằm ngoài quan hệ lao động nhưng có tác động đến quan hệ lao động. Cụ thể như sau:

1. Nhóm giải pháp thứ nhất: Nâng cao năng lực quản lý, hỗ trợ quan hệ lao động của các cơ quan Nhà nước và các thiết chế quan hệ lao động:

a) Hình thành bộ phận chuyên trách về quan hệ lao động trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện chức năng quản lý và hỗ trợ phát triển quan hệ lao động, là đầu mối phối hợp, kết nối với các Sở - ngành, đơn vị và các quận, huyện để thực hiện Đề án. Việc hình thành bộ phận chuyên trách là phù hợp với quy định tại Điều 235 của Bộ luật Lao động năm 2012 “xây dựng các cơ chế, thiết chế hỗ trợ phát triển quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ”.

* Phân công thực hiện: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Sở Nội vụ và các đơn vị liên quan thực hiện.

b) Tổ chức kiện toàn và nâng cao năng lực, chuyên môn hóa đội ngũ cán bộ, công chức chuyên trách, phụ trách về quan hệ lao động và lực lượng hòa giải viên lao động.

- Rà soát, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức chuyên trách, phụ trách về quan hệ lao động tại các cơ quan, đơn vị và đội ngũ hòa giải viên lao động tại các quận, huyện.

- Tổ chức các hoạt động đào tạo, tập huấn nâng cao nhận thức về quan hệ lao động, các quy định pháp luật, cung cấp kiến thức chuyên môn và các kỹ năng cần thiết cho đội ngũ cán bộ, công chức chuyên trách, phụ trách về quan hệ lao động và lực lượng hòa giải viên lao động, đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý, hỗ trợ quan hệ lao động theo quy định pháp luật; đồng thời đáp ứng yêu cầu tác nghiệp hòa giải tranh chấp lao động, bao gồm tranh chấp lao động cá nhân, tranh chấp lao động tập thể về quyền và về lợi ích.

- Đánh giá thực trạng công tác tổ chức, quản lý, phân bổ, hỗ trợ hòa giải viên lao động tại các quận, huyện. Xây dựng “Quy chế tổ chức và hoạt động của hòa giải viên” để có cơ chế quản lý thống nhất, nâng cao hiệu quả việc phân bổ, điều phối, hỗ trợ hòa giải viên thực hiện tác nghiệp hòa giải tranh chấp lao động.

* Phân công thực hiện: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Sở Nội vụ, Liên đoàn Lao động Thành phố, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Quản lý các Khu Chế xuất và Công nghiệp Thành phố, Ủy ban nhân dân các quận, huyện và các đơn vị liên quan thực hiện.

c) Xây dựng hồ sơ quan hệ lao động, nhất là đối với những doanh nghiệp có nguy cơ cao về tranh chấp lao động, đình công nhằm thiết lập công cụ nắm bắt, theo dõi, đánh giá đầy đủ về tình hình vận hành của quan hệ lao động tại doanh nghiệp để có những giải pháp kịp thời phòng ngừa tranh chấp lao động, đình công xảy ra.

- Thí điểm xây dựng mẫu hồ sơ quan hệ lao động đối với doanh nghiệp và các hướng dẫn về việc lập, cập nhật và theo dõi hồ sơ.

- Tiến hành rà soát và lập danh sách các doanh nghiệp có nguy cơ xảy ra tranh chấp lao động cao.

- Trên cơ sở danh sách các doanh nghiệp và mẫu hồ sơ quan hệ lao động, các quận, huyện giao cho từng hòa giải viên hoặc nhóm các hòa giải viên phối hợp với doanh nghiệp lập hồ sơ và thường xuyên theo dõi, cập nhật định kỳ 01 quý/lần. Hồ sơ sau khi lập, cập nhật được quản lý tại Phòng Lao động - Thương binh, và Xã hội quận, huyện để phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước và phục vụ cho hòa giải viên tham gia các hoạt động hỗ trợ, hòa giải tranh chấp tại doanh nghiệp.

- Tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm để hoàn thiện mẫu hồ sơ quan hệ lao động, các hướng dẫn về việc lập, cập nhật, theo dõi hồ sơ và triển khai nhân rộng diện áp dụng.

* Phân công thực hiện: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Liên đoàn Lao động Thành phố và Ủy ban nhân dân các quận, huyện và các đơn vị liên quan thực hiện.

d) Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền đến các tầng lớp nhân dân nhằm nâng cao nhận thức xã hội về quan hệ lao động, giúp định hướng dư luận đối với các vấn đề liên quan trong quan hệ lao động, đặc biệt là vấn đề tranh chấp lao động và đình công.

- Đẩy mạnh công tác thông tin, giới thiệu cho công nhân, người lao động, người sử dụng lao động tại các doanh nghiệp nhận thức đúng về quan hệ lao động; tuyên truyền các quy định pháp luật lao động có liên quan, các quy tắc ứng xử phù hợp, đúng quy định trong quan hệ lao động... bằng nhiều hình thức phù hợp với từng đối tượng như: cẩm nang, sổ tay, tờ rơi, các hội thi tìm hiểu, nói chuyện chuyên đề, tọa đàm...

- Các báo, đài Thành phố có các chuyên trang, chuyên mục định kỳ, bài viết liên quan đến quan hệ lao động, pháp luật lao động nhằm tuyên truyền, phổ biến trong nhân dân.

* Phân công thực hiện: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Sở Tư pháp, Sở Thông tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo Thành ủy, Liên đoàn Lao động Thành phố, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân các quận, huyện và các đơn vị liên quan thực hiện.

2. Nhóm giải pháp thứ hai: Tăng cường năng lực của tổ chức công đoàn trong quan hệ lao động.

a) Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn chuyên trách của Thành phố có đủ chuyên môn, năng lực, thời gian để thực hiện tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn đối với người lao động, của công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở đối với công đoàn cơ sở, với tập thể người lao động tại các doanh nghiệp chưa có công đoàn cơ sở, theo quy định pháp luật, nhất là trong xây dựng quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ, ổn định trong doanh nghiệp.

- Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nâng cao năng lực, kỹ năng hoạt động cho cán bộ công đoàn các cấp.

- Tiếp tục đề xuất các chính sách đào tạo bồi dưỡng, chế độ đãi ngộ phù hợp cho đội ngũ cán bộ công đoàn chuyên trách tại doanh nghiệp.

* Phân công thực hiện: Đề nghị Liên đoàn Lao động Thành phố chủ trì phối hợp với Sở Nội vụ, Sở Tư pháp và các đơn vị có liên quan thực hiện.

b) Xây dựng cơ chế công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở hỗ trợ hiệu quả đối với công đoàn cơ sở, cơ chế đại diện và bảo vệ hiệu quả đối với tập thể người lao động tại những doanh nghiệp chưa thành lập công đoàn cơ sở, góp phần nâng cao vai trò của công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở theo quy định tại Điều 188 Bộ luật Lao động năm 2012 và Luật Công đoàn năm 2012.

- Rà soát, đánh giá các cơ chế hỗ trợ đang thực hiện của công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở đối với công đoàn cơ sở và tập thể người lao động.

- Lập kế hoạch, xây dựng cơ chế hỗ trợ của công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở đối với công đoàn cơ sở.

- Tổ chức tập huấn chuyên đề, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ cơ sở.

- Thành lập các đội, nhóm chuyên gia của công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở hỗ trợ công đoàn cơ sở trong quá trình đối thoại, thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể với người sử dụng lao động.

- Làm điểm xây dựng cơ chế thực hiện vai trò đại diện của công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở đối với tập thể người lao động tại những doanh nghiệp chưa thành lập công đoàn cơ sở, làm cơ sở đánh giá, rút kinh nghiệm và hoàn thiện cơ chế để triển khai nhân rộng.

* Phân công thực hiện: Đề nghị Liên đoàn Lao động Thành phố chủ trì phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban Quản lý các Khu Chế xuất và Công nghiệp Thành phố. Ủy ban nhân dân các quận, huyện và các đơn vị liên quan thực hiện.

c) Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở hỗ trợ tập thể người lao động tại các doanh nghiệp ngoài nhà nước thành lập công đoàn cơ sở theo hướng tiếp cận từ dưới lên, đảm bảo đủ năng lực và vị thế để đại diện cho tập thể người lao động tương tác với người sử dụng lao động, nhất là trong hoạt động đại diện cho tập thể lao động đối thoại, thương lượng với người sử dụng lao động.

- Tìm hiểu, xây dựng hạt nhân người lao động tích cực, nhóm công nhân nòng cốt có ý thức chấp hành pháp luật, có ảnh hưởng tốt đối với tập thể người kao động. Tổ chức đào tạo, tập huấn nâng cao nhận thức, ý thức, hiểu biết văn hóa và quy định pháp luật cho hạt nhân người lao động tích cực, nhóm công nhân nòng cốt. Xây dựng kế hoạch, hướng dẫn hạt nhân người lao động tích cực, nhóm công nhân nòng cốt vận động tập thể người lao động thành lập công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp.

- Tổ chức thực hiện thí điểm tại một số doanh nghiệp trong các khu chế xuất, khu công nghiệp và tại các quận, huyện. Tiến hành đánh giá, rút kinh nghiệm để hoàn thiện cơ chế hỗ trợ của công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở trong việc thành lập công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp ngoài nhà nước theo hướng tiếp cận từ dưới lên và mở rộng diện áp dụng.

* Phân công thực hiện: Đề nghị Liên đoàn Lao động Thành phố chủ trì phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban Quản lý các Khu Chế xuất và Công nghiệp Thành phố, Ủy ban nhân dân các quận, huyện và các đơn vị liên quan thực hiện.

d) Thí điểm việc công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở hỗ trợ đưa ra các khuyến nghị về những nội dung, điều khoản cơ bản trong thỏa ước lao động để công đoàn cơ sở tham khảo trong quá trình thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể tại doanh nghiệp.

- Định kỳ hàng năm, trên cơ sở đánh giá sự biến động của các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống, thu nhập của người lao động, diễn biến tình hình quan hệ lao động trên địa bàn Thành phố, tổ chức công đoàn xây dựng các khuyến nghị về những nội dung, điều khoản cơ bản trong thỏa ước lao động để công đoàn cơ sở tham khảo trong quá trình thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể tại doanh nghiệp.

- Tiến hành lựa chọn một số quận, huyện thực hiện thí điểm việc xây dựng cơ chế hỗ trợ, các nội dung khuyến nghị phù hợp với loại hình, điều kiện sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dệt may, giày da và một số ngành nghề khác, làm cơ sở để các công đoàn cơ sở tham khảo, áp dụng. Tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực hiện thí điểm để hoàn thiện cơ chế hỗ trợ, các khuyến nghị về điều khoản cơ bản trong thỏa ước lao động tập thể phù hợp với doanh nghiệp và mở rộng diện áp dụng.

* Phân công thực hiện: Đề nghị Liên đoàn Lao động Thành phố chủ trì phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban nhân dân các quận, huyện và các đơn vị liên quan thực hiện.

3. Nhóm giải pháp thứ ba: Nâng cao hiệu quả hoạt động đối thoại, thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể.

a) Thành lập các đội, nhóm chuyên gia của cơ quan quản lý Nhà nước về lao động, tổ chức công đoàn, đại diện giới sử dụng lao động trực tiếp tham gia hỗ trợ quá trình đối thoại tại nơi làm việc, quá trình thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể tại doanh nghiệp.

* Phân công thực hiện: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Liên đoàn Lao động Thành phố, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân các quận, huyện và các đơn vị liên quan thực hiện.

b) Nâng cao hiệu quả hoạt động đối thoại, đưa ra mô hình đối thoại hiệu quả tại doanh nghiệp và hướng dẫn thực hiện đối thoại định kỳ tại nơi làm việc theo quy định tại Chương V Bộ Luật Lao động năm 2012.

- Rà soát, đánh giá những hình thức đối thoại đang thực hiện tại các doanh nghiệp. Xây dựng mô hình đối thoại hiệu quả tại nơi làm việc và tiến hành làm điểm lại một số quận, huyện, doanh nghiệp.

- Tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm để hoàn thiện mô hình và mở rộng diện áp dụng.

* Phân công thực hiện: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Liên đoàn Lao động Thành phố, Ban Quản lý các Khu Chế xuất và Công nghiệp Thành phố, Ủy ban nhân dân các quận, huyện và các đơn vị liên quan thực hiện.

c) Tăng cường hoạt động hỗ trợ của bên thứ ba (cơ quan Nhà nước, tổ chức công đoàn, tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động) trong quá trình đối thoại, thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể tại doanh nghiệp([17]).

- Xây dựng bộ tài liệu, cẩm nang hướng dẫn, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng cho các bên tham gia thực hiện hoạt động đối thoại, thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể tại doanh nghiệp.

- Xây dựng cơ chế bên thứ ba (cơ quan quản lý Nhà nước, tổ chức công đoàn, tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động) cung cấp thông tin, tham gia, hỗ trợ hiệu quả quá trình đối thoại, thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể tại doanh nghiệp.

- Tổ chức tâm điểm việc công đoàn cấp trên cơ sở, cơ quan quản lý Nhà nước về lao động, tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động trực tiếp xuống doanh nghiệp hỗ trợ đối thoại, thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể tại một số doanh nghiệp trên địa bàn.

- Tiến hành đánh giá, rút kinh nghiệm để hoàn thiện cơ chế hỗ trợ của bên thứ ba đối với hoạt động đối thoại, thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể và mở rộng diện áp dụng.

* Phân công thực hiện: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Liên đoàn Lao động Thành phố, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Quản lý các Khu Chi xuất và Công nghiệp Thành phố, Ủy ban nhân dân các quận, huyện và các đơn vị liên quan thực hiện.

4. Nhóm giải pháp thứ tư: Chủ động giảm thiểu tranh chấp lao động tập thể và đình công.

a) Bổ sung, hoàn thiện quy trình giải quyết các cuộc đình công không đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định, từ giai đoạn hỗ trợ trước đình công, giải quyết đình công đến việc theo dõi tình hình quan hệ lao động của doanh nghiệp sau đình công.

- Rà soát, đánh giá lại Quy trình xử lý bước đầu các vụ đình công không đúng pháp luật lao động tại Quyết định số 35/2006/QĐ-UBND ngày 07 tháng 3 năm 2006 của Ủy ban nhân dân Thành phố về ban hành Quy chế phối hợp giải quyết bước đầu các vụ đình công không đúng quy định pháp luật lao động trên địa bàn Thành phố để đề xuất định hướng bổ sung, cải tiến, làm cơ sở bình thành quy trình khung về giải quyết các cuộc đình công không đúng trình tự thủ tục pháp luật thông qua hòa giải với các giai đoạn trước, trong và sau khi xảy ra đình công.

- Triển khai thực hiện thí điểm việc áp dụng quy trình tại một số quận, huyện, doanh nghiệp. Tiến hành đánh giá, rút kinh nghiệm để hoàn thiện quy trình giải quyết đình công không đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định và mở rộng diện áp dụng.

* Phân công thực hiện: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Liên đoàn Lao động Thành phố, Ban Quản lý các Khu Chế xuất và Công nghiệp Thành phố, Ủy ban nhân dân các quận, huyện và các đơn vị có liên quan thực hiện.

b) Thí điểm hoạt động can thiệp, hỗ trợ chủ động của hòa giải viên trong giai đoạn có nguy cơ xảy ra đình công (trước đình công) tại doanh nghiệp.

- Thí điểm xây dựng cơ chế hòa giải viên thường xuyên nắm bắt thông tin, theo dõi tình hình quan hệ lao động tại những doanh nghiệp có nguy cơ cao về tranh chấp lao động trong hồ sơ quan hệ lao động; chủ động xuống doanh nghiệp hỗ trợ các bên hòa giải ngay khi có dấu hiệu phát sinh tranh chấp lao động.

- Tổ chức thực hiện thí điểm tại một số quận, huyện và doanh nghiệp có nguy cơ cao về tranh chấp lao động. Tiến hành đánh giá, rút kinh nghiệm để hoàn thiện cơ chế hỗ trợ chủ động của hòa giải viên và mở rộng diện áp dụng.

* Phân công thực hiện: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân các quận, huyện, Ban Quản lý các Khu Chế xuất và Công nghiệp Thành phố và các đơn vị có liên quan thực hiện.

5. Nhóm giải pháp thứ năm: Cải thiện, phát triển các yếu tố môi trường kinh tế - văn hóa - xã hội có tác động đến quan hệ lao động.

a) Đẩy mạnh triển khai thực hiện các chương trình nhà ở xã hội cho công nhân theo chỉ đạo của Thành ủy và Ủy ban nhân dân Thành phố. Đa dạng hóa các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng... nhằm thu hút, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia xây dựng nhà ở, nhà cho thuê cho công nhân tại các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung.

* Phân công thực hiện: Sở Xây dựng chủ trì phối hợp với Ban Quản lý các Khu chế xuất và Công nghiệp Thành phố, Ủy ban nhân dân các quận, huyện và các đơn vị có liên quan thực hiện.

b) Tiếp tục thực hiện các hoạt động chăm lo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân, giúp công nhân an tâm lao động sản xuất, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ tại doanh nghiệp và sự phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố.

- Đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng các công trình phục vụ đời sống công nhân như: nhà giữ trẻ cho con công nhân, cửa hàng tiện ích, phòng khám đa khoa, bếp ăn tập thể, các Trung tâm sinh hoạt công nhân... từng bước đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sinh hoạt, điều kiện sống cho công nhân, người lao động tại các khu chế xuất, khu công nghiệp.

- Tiếp tục triển khai các chương trình chăm lo cho công nhân với các hoạt động như: tư vấn pháp luật, tư vấn sức khỏe, tổ chức sân chơi cuối tuần, các chương trình giao lưu văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao, chiếu phim lưu động, chương trình bán hàng với giá ưu đãi, phiên chợ công nhân, chăm lo nhân các dịp lễ, tết, hỗ trợ vé xe, vé tàu... góp phần nâng cao đời sống cho công nhân lao động.

* Phân công thực hiện: Ban Quản lý các Khu Chế xuất và Công nghiệp Thành phố chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân các quận, huyện, Liên đoàn Lao động Thành phố, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Y tế, Sở Thông tin và Truyền thông, Thành Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố và các đơn vị liên quan thực hiện.

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Lộ trình thực hiện: Đề án sẽ được tập trung triển khai thực hiện theo hai giai đoạn như sau:

a) Giai đoạn 1 (2014 - 2015):

- Tổ chức các hoạt động tập huấn, triển khai, quán triệt đến các Sở - ngành, cơ quan, đơn vị, các địa phương và tuyên truyền đến các doanh nghiệp, người lao động và các tầng lớp nhân dân về Đề án để nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận trong quá trình triển khai thực hiện.

- Xây dựng kế hoạch cụ thể triển khai thực hiện các nội dung, nhóm giải pháp đã đề ra trong Đề án.

- Triển khai các hoạt động thí điểm, thực hiện điểm tại các địa phương, doanh nghiệp, làm cơ sở đánh giá, rút kinh nghiệm và hoàn thiện các nội dung.

b) Giai đoạn 2 (2016 - 2020):

- Tổ chức sơ kết đánh giá tình hình, kết quả thực hiện Đề án trong giai đoạn 1, sơ kết các hoạt động thí điểm, thực hiện điểm, đánh giá, rút kinh nghiệm, hoàn thiện các nội dung để triển khai thực hiện trên diện rộng.

- Tùy theo yêu cầu và khả năng, có thể phát triển các giải pháp thành các dự án riêng để thu hút nguồn lực đầu tư, tập trung thực hiện.

- Tổ chức tổng kết đánh giá kết quả thực hiện Đề án vào cuối giai đoạn, đề ra các nội dung phát triển quan hệ lao động trên địa bàn Thành phố trong giai đoạn tiếp theo.

2. Tổ chức triển khai:

a) Các Sở - ngành Thành phố, Ủy ban nhân dân các quận, huyện và cơ quan, đơn vị liên quan có trách nhiệm xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện các nội dung nhiệm vụ, giải pháp được phân công trong Đề án này trình Ủy ban nhân dân Thành phố; thời gian thực hiện chậm nhất trong quý II năm 2014.

b) Giao Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tham mưu Kế hoạch tổ chức tập huấn triển khai Đề án, tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ chuyên trách, phụ trách về quan hệ lao động tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan; xây dựng kế hoạch thực hiện hàng năm, làm đầu mối triển khai thực hiện Đề án và thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các đơn vị thực hiện; tổng hợp báo cáo kết quả thực hiện Đề án định kỳ hàng năm và tham mưu công tác sơ kết, tổng kết, trình Ủy ban nhân dân Thành phố.

c) Đề nghị Liên đoàn Lao động Thành phố phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức tập huấn triển khai Đề án cho đội ngũ cán bộ công đoàn các cấp; xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện các nội dung, nhiệm vụ, giải pháp theo phân công trong Đề án.

d) Giao Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính phối hợp với các đơn vị liên quan tham mưu đảm bảo kinh phí thực hiện Đề án.

đ) Các Sở - ngành, Ủy ban nhân dân quận, huyện, các cơ quan, đơn vị trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và nội dung được phân công có trách nhiệm tổ chức thực hiện Đề án. Định kỳ 6 tháng, năm báo cáo kết quả thực hiện cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội để tổng hợp trình Ủy ban nhân dân Thành phố. Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh những khó khăn, vướng mắc, các đơn vị kịp thời báo cáo cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội để tổng hợp và có hướng đề xuất trình Ủy ban nhân dân Thành phố xem xét, chỉ đạo.

e) Đề nghị Ban Dân vận Thành ủy, Ban Tuyên giáo Thành ủy hỗ trợ các Sở - ngành, đơn vị có liên quan triển khai thực hiện các nội dung nhiệm vụ, giải pháp được phân công trong Đề án.

3. Kiến nghị Bộ - ngành Trung ương:

a) Đề nghị Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội:

- Tiếp tục hướng dẫn về chuyên môn cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và các cơ quan liên quan trong quá trình triển khai, tổ chức thực hiện Đề án thuộc chức năng, nhiệm vụ của ngành.

- Chỉ đạo Trung tâm Hỗ trợ phát triển quan hệ lao động trực thuộc Bộ tiếp tục hỗ trợ các cơ quan chuyên môn của Thành phố triển khai thực hiện Đề án, trong đó, đề nghị tập trung một số hoạt động gồm: (1) Hỗ trợ xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Đề án; (2) Hỗ trợ kỹ thuật trong suốt quá trình tổ chức thực hiện Đề án; (3) Hỗ trợ hoạt động tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn về quan hệ lao động cho đội ngũ cán bộ của Thành phố; (4) Hỗ trợ hoạt động sơ kết, tổng kết thực hiện Đề án; (5) Thực hiện các hỗ trợ kỹ thuật khác theo yêu cầu...

- Đưa Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đối tác của Dự án Việt Nam - ILO về quan hệ lao động để Thành phố nhận được sự hỗ trợ (về kỹ thuật và kinh phí) trong triển khai thực hiện các hoạt động điểm, thí điểm theo các nội dung giải pháp của Đề án đã đề ra.

b) Đề nghị Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam: chỉ đạo và hướng dẫn chuyên môn đối với Liên đoàn Lao động Thành phố trong việc tổ chức thực hiện các nội dung được phân công trong Đề án thuộc chức năng, nhiệm vụ của ngành.

c) Đề nghị Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp, hỗ trợ các Sở - ngành, quận - huyện, các đơn vị liên quan triển khai thực hiện Đề án theo nội dung được phân công; tổ chức hội thảo, tập huấn cho các doanh nghiệp về ý nghĩa, mục tiêu, nội dung của Đề án, các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước để tạo sự đồng thuận, cùng tham gia xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố./.



([1]) Niên giám thống kê 2012.

([2]) Doanh nghiệp dưới 05 lao động có 45.907 doanh nghiệp (tỷ lệ 43,87%); t 05 - 09 lao động có 29.356 doanh nghiệp (tlệ 28,05%); Từ 10 - 49 lao động có 22.950 doanh nghiệp (tỷ lệ 21.93%); t50 - 199 lao động có 4.752 doanh nghiệp (tlệ 4,55%); từ 200 - 499 lao động có 1.060 doanh nghiệp (tỷ l1,01) và từ 500 lao động tr lên có 616 doanh nghiệp (tỷ lệ 0,59%).

([3]) S lao động làm việc trong doanh nghiệp nhà nước là 205.064 lao động (chiếm tỷ lệ 8,37%), doanh nghiệp ngoài nhà nước là 1.692.333 lao động (chiếm tỷ lệ 69,03%), doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 554.130 lao động (22,60%).

[4] Báo cáo sơ kết 05 năm thực hin Kế hoạch số 7804/KH-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phHồ Chí Minh

[5] Báo cáo đánh giá thực trạng hoạt động hòa giải của hòa gii viên lao động tại 24 quận, huyện.

[6] Huyện Cần Giờ, huyện Hóc Môn chbổ nhiệm 01 hòa gii viên; những quận có nhiều doanh nghiệp, nhiều tranh chp như Quận 6, Quận 7, quận Tân Bình, quận Tân Phú cũng ch bnhiệm 02 hòa giải viên; nhưng có nơi ít doanh nghiệp, ít tranh chấp như huyện Củ Chi lại bnhiệm ti 23 hòa gii viên. Tính bình quân chung trên địa bàn Thành phố thì 1.900 doanh nghiệp mới có 01 hòa giải viên.

[7] Quyết định số 2625/QĐ-UBND ngày 20 tháng 6 năm 2008 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố về kiện toàn Hội đồng trọng tài lao động Thành phố với 07 thành viên gồm đại diện Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Liên đoàn Lao động Thành phố, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, Hội Luật gia Thành phố, Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố, Thành Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

[8] Nhà trẻ tại Khu lưu trú công nhân Khu Công nghiệp Hiệp Phước đã hoàn thành và đưa vào sử dụng; Khu Công nghiệp Tân Thuận và Khu Công nghiệp Vĩnh Lộc đã hoàn tất thủ tục bàn giao đất cho Ủy ban nhân dân Quận 7 và quận Bình Tân để tiến hành xây dựng; 03 Khu Công nghiệp Tân Tạo, Linh Trung 1 và Linh Trung 2 đang điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng trường mầm non.

[9] Các khu công nghiệp, khu chế xuất: Tân Bình, Tân Thuận, Tân Tạo, Lê Minh Xuân, Hiệp Phước.

[10] Các khu: Linh Trung 1, Linh Trung 2, Bình Chiểu, Tân Thới Hiệp.

[11] Khu Chế xuất, Tân Thuận, Linh Trung 2 và Khu Công nghiệp Tân Bình, Tân Tạo, Vĩnh Lộc.

[12] Khu Chế xuất Tân Thuận, Khu Công nghiệp Hiệp Phước và Khu Chế xuất Linh Trung.

[13] Luật Công đoàn có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2013 và Bộ Luật Lao động có hiệu lực từ ngày 01 tháng 5 năm 2013.

[14] Nếu không có tổ chức công đoàn có năng lực và vị thế đại diện cho tập thể người lao động thì sẽ không thể có đối thoại, thương lượng và thỏa ước thật sự; nếu quá trình thương lượng không thật sự diễn ra, nếu không có sự lãnh đạo của tổ chức công đoàn thì đình công nếu xảy ra tất yếu sẽ mang tính tự phát. Nếu đình công đã diễn ra tự phát, không theo trình tự thủ tục pháp luật quy định, thì các thiết chế về hòa giải, trọng tài và xét xử sẽ không thể hoạt động được.

[15] Ví dụ: tổ chức công đoàn là kết quả của quá trình liên kết của tập thể công nhân qua ý thức giác ngộ giai cấp và thống nhất lợi ích; thỏa ước lao động tập thể là kết quả của quá trình thương lượng có tổ chức; đình công là kết quả của quá trình liên kết có tổ chức và lãnh đạo.

[16] Các yếu tố cơ bản để xác định một cuộc đình công diễn ra đúng trình tự thủ tục pháp luật, quy định (Bộ Luật Lao động năm 2012) là cuộc đình công đó phải do công đoàn lãnh đạo; phải xuất phát từ tranh chấp về lợi ích và đã qua các bước hòa giải; trọng tài nhưng không thành. Khi một cuộc đình công không hội tụ đủ một trong các yếu tố trên thì việc giải quyết đình công không thể tiến hành theo trình tự thủ tục pháp luật quy định. Đây chính là hiện trạng đình công và giải quyết đình công hiện nay.

[17] Theo Khoản 2, Điều 72 Bộ Luật Lao động năm 2012.

Nội dung văn bản đang được cập nhật

Quyết định 1993/QĐ-UBND năm 2014 phê duyệt Đề án "Phát triển quan hệ lao động tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014-2020"

Số hiệu: 1993/QĐ-UBND
Loại văn bản: Quyết định
Nơi ban hành: Thành phố Hồ Chí Minh
Người ký: Hứa Ngọc Thuận
Ngày ban hành: 23/04/2014
Ngày hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Văn bản được hướng dẫn - [0]
Văn bản được hợp nhất - [0]
Văn bản bị sửa đổi bổ sung - [0]
Văn bản bị đính chính - [0]
Văn bản bị thay thế - [0]
Văn bản được dẫn chiếu - [4]
Văn bản được căn cứ - [5]
Văn bản liên quan ngôn ngữ - [0]

Văn bản đang xem

Quyết định 1993/QĐ-UBND năm 2014 phê duyệt Đề án "Phát triển quan hệ lao động tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014-2020"

Văn bản liên quan cùng nội dung - [3]
Văn bản hướng dẫn - [0]
Văn bản hợp nhất - [0]
Văn bản sửa đổi bổ sung - [0]
Văn bản đính chính - [0]
Văn bản thay thế - [0]
Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Tài khoản để biết được tình trạng hiệu lực, tình trạng đã bị sửa đổi, bổ sung, thay thế, đính chính hay đã được hướng dẫn chưa của văn bản và thêm nhiều tiện ích khác
Loading…