Xem thêm

CHÍNH PHỦ
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

ĐỀ CƯƠNG
DỰ THẢO
NGHỊ ĐỊNH

 

 

NGHỊ ĐỊNH

VỀ GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ TRONG HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Luật Giao dịch điện tử ngày 29 tháng 11 năm 2005;

Căn cứ Luật An toàn thông tin mạng ngày 19 tháng 11 năm 2015;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

Chính phủ ban hành Nghị định về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính.

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

1. Phạm vi điều chỉnh

- Giao dịch điện tử trong các lĩnh vực [thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tài chính, được nêu tên cụ thể tại dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính]: Tài chính (bao gồm: ngân sách nhà nước, thuế, phí, lệ phí và thu khác của ngân sách nhà nước, dự trữ nhà nước, tài sản công, các quỹ tài chính nhà nước, đầu tư tài chính, tài chính doanh nghiệp, tài chính hợp tác xã và kinh tế tập thể); hải quan; kế toán; kiểm toán độc lập; giá; chứng khoán; hoạt động dịch vụ tài chính; bảo hiểm nhưng không bao gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp;.

- Không bao gồm các giao dịch điện tử có chứa bí mật nhà nước.

2. Đối tượng áp dụng

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân là chủ quản hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính.

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính.

- Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra chứng từ tài chính.

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có nhu cầu tra cứu, xác minh thông tin về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trong phạm vi pháp luật cho phép.

3. Giải thích từ ngữ

- “Chủ quản hệ thống thông tin (phục vụ giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính)[căn cứ định nghĩa “Chủ quản hệ thống thông tin” tại khoản 5 Điều 3 Luật An toàn thông tin mạng]: là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền quản lý trực tiếp đối với hệ thống thông tin phục vụ việc khởi tạo, xử lý, truyền nhận, lưu trữ giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính.

- “Chứng từ điện tử”: một hình thức của thông điệp dữ liệu, bao gồm: chứng từ kế toán điện tử; chứng từ thu, chi ngân sách điện tử; thông tin khai và thực hiện thủ tục hải quan điện tử; thông tin khai và thực hiện thủ tục thuế điện tử; chứng từ giao dịch chứng khoán điện tử; báo cáo tài chính điện tử; báo cáo quyết toán điện tử và các loại chứng từ điện tử khác phù hợp với từng loại giao dịch theo quy định của pháp luật trong các lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này.

- “Cơ quan tài chính” là một trong các cơ quan sau:

a) Bộ Tài chính;

b) Các cơ quan thuộc Bộ Tài chính (Vụ, Cục, Tổng cục và tương đương) có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ.

c) Sở Tài chính các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

- “Dịch vụ trung gian (trong giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính)[căn cứ định nghĩa “Người trung gian” tại khoản 9 Điều 4 Luật Giao dịch điện tử]: Dịch vụ đại diện (một phần hoặc toàn bộ) cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thực hiện việc gửi; nhận; lưu trữ; hỗ trợ khởi tạo, xử lý chứng từ điện tử; xác nhận việc thực hiện giao dịch điện tử của các bên tham gia giao dịch điện tử.

- “Xác thực”: Việc xác minh trên hệ thống thông tin nhằm đảm bảo người đang thực hiện giao dịch điện tử chính là người được thực hiện giao dịch này.

- “Mã xác thực”: Chuỗi ký tự (chữ số, chữ cái, dấu, ký tự đặc biệt) được gắn với người thực hiện giao dịch điện tử tại mỗi lần thực hiện giao dịch nhằm phục vụ việc xác thực.

4. Nguyên tắc giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính phải tuân thủ các nguyên tắc quy định tại Điều 5 của Luật Giao dịch điện tử; quy định của pháp luật về quản lý chuyên ngành các lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này; quy định của pháp luật về an toàn thông tin mạng.

[Quy định của pháp luật về quản lý chuyên ngành các lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này bao gồm:  Luật Ngân sách nhà nước năm 2015; Luật Quản lý thuế năm 2006; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế năm 2012; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế năm 2016; Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2013; Luật thuế thu nhập cá nhân 2007 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2013; Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng năm 2013; Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008; Luật Thuế tài nguyên năm 2009; Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều các luật về thuế năm 2014; Luật Dự trữ quốc gia năm 2012; Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017; Luật Hải quan năm 2014; Luật Kế toán năm 2015; Luật Kiểm toán độc lập năm 2011; Luật Giá năm 2012; Luật Chứng khoán năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán năm 2010; Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010.]

Quy định của pháp luật về an toàn thông tin mạng: Luật An toàn thông tin mạng năm 2015]

- Giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính thuộc thủ tục hành chính phải tuân thủ quy định của pháp luật về thủ tục hành chính và dịch vụ công trực tuyến.

[Quy định của pháp luật về thủ tục hành chính và dịch vụ công trực tuyến: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015; Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính; Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước.]

- Việc sử dụng chứng thư số và chữ ký số trong giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính phải tuân thủ quy định của pháp luật về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số.

[Quy định của pháp luật về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số: Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15/02/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số; Nghị định số 106/2011/NĐ-CP ngày 23/11/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15/02/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số; Nghị định số 170/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15/02/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số và Nghị định số 106/2011/NĐ-CP ngày 23/11/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15/02/2007.

Bộ Thông tin và Truyền thông đang chủ trì xây dựng dự thảo Nghị định thay thế các Nghị định này.]

Chương II

QUY ĐỊNH CỤ THỂ

5. Giá trị pháp lý của chứng từ điện tử

a) Về nội dung, chứng từ điện tử phải phù hợp với quy định của pháp luật về quản lý chuyên ngành tương ứng.

b) Về biện pháp xác thực, chứng từ điện tử phải đáp ứng một trong các điều kiện sau:

- Có đủ chữ ký số của những người có trách nhiệm ký chứng từ.

- Có chữ ký số của người có thẩm quyền hệ thống thông tin có khả năng nhận biết và xác nhận việc đã xử lý của những người có trách nhiệm theo quy định của pháp luật trong quá trình luân chuyển chứng từ đến người ký cuối cùng.

- Có chữ ký số của tổ chức.

- Áp dụng một trong các biện pháp xác thực sau đối với người khởi tạo, người tham gia xử lý chứng từ:

+ Xác thực bằng mã xác thực dùng một lần hoặc mã xác thực ngẫu nhiên: Mã xác thực được gửi bằng tin nhắn đến điện thoại di động của người thực hiện giao dịch tại mỗi lần khởi tạo, xử lý chứng từ; Mã xác thực được sinh ngẫu nhiên sau một khoảng thời gian từ thiết bị gắn duy nhất với người thực hiện giao dịch (Token key); Mã xác thực được sinh ngẫu nhiên sau một khoảng thời gian từ ứng dụng được cài đặt trên điện thoại của người thực hiện giao dịch (Smart OTP); Mã xác thực là tọa độ ô số ngẫu nhiên được tạo chọn từ thẻ ma trận (Matrix card); Phương tiện xác thực tương đương khác (sử dụng mã xác thực khác nhau cho mỗi lần khởi tạo, xử lý chứng từ điện tử).

+ Xác thực bằng sinh trắc học: khuôn mặt, mao mạch bàn tay, dấu vân tay, giọng nói, võng mạc, mống mắt... của người khởi tạo, xử lý chứng từ.

6. Sử dụng chữ ký số

[Giữ nguyên theo quy định tại Điều 1 của Nghị định 156/2016/NĐ-CP ngày 21/11/2016 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 27/2007/NĐ-CP]

- Các loại chứng thư số được sử dụng để ký số trong hoạt động tài chính giữa tổ chức, cá nhân với cơ quan tài chính: chứng thư số được cấp bởi tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng; chứng thư số được cấp bởi tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng phục vụ các cơ quan thuộc hệ thống chính trị; chứng thư số nước ngoài được công nhận; chứng thư số nước ngoài được chấp nhận tại Việt Nam; chứng thư số nước ngoài được chấp nhận trong giao dịch quốc tế.

- Cơ quan tài chính tham gia giao dịch điện tử có ràng buộc bởi điều ước quốc tế về chữ ký số mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì phải thực hiện theo điều ước quốc tế đó.

- Bộ Tài chính quy định cụ thể các giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ tài chính bắt buộc phải sử dụng chữ ký số.

7. Chuyển từ chứng từ giấy sang chứng từ điện tử

a) Khi cần thiết, chứng từ giấy có thể chuyển sang chứng từ điện tử theo các phương thức sau:

- Chứng từ giấy được chuyển thành điện tử dưới dạng hình ảnh nguyên trạng [quét thành tệp ảnh hoặc PDF].

- Chứng từ giấy được nhận diện và chuyển đổi thành dữ liệu để lưu vào hệ thống thông tin [sử dụng mã vạch hoặc phần mềm nhận diện ngôn ngữ, hình ảnh].

b) Chứng từ giấy khi chuyển thành chứng từ điện tử phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Phản ánh toàn vẹn nội dung của chứng từ giấy;

-biện pháp xác thực cá nhân hoặc tổ chức thực hiện (hoặc chịu trách nhiệm về) việc chuyển đổi chứng từ giấy thành chứng từ điện tử bằng một trong các cách sau:

+ Chữ ký số của cá nhân hoặc tổ chức trên chứng từ điện tử được chuyển đổi từ chứng từ giấy.

+ Xác thực cá nhân thực hiện chuyển đổi chứng từ điện tử sang chứng từ giấy theo một trong các biện pháp quy định tại Điều 5.

c) Giá trị pháp lý của các chứng từ giấy chuyển sang chứng từ điện tử theo quy định của pháp luật về quản lý chuyên ngành tương ứng.

8. Kiểm tra chứng từ điện tử

a) Kiểm tra chứng từ điện tử theo phương thức điện tử được thực hiện thông qua một hoặc kết hợp các phương thức sau:

- Kết nối, truyền thông tin chứng từ điện tử cho cơ quan kiểm tra.

- Cung cấp tài khoản truy cập hệ thống thông tin cho cơ quan kiểm tra.

- Cung cấp tài khoản truy vấn (hỏi/đáp) thông tin về chứng từ điện tử cho cơ quan kiểm tra.

- Truy vấn (hỏi/đáp) dưới dạng tin nhắn điện thoại trong phạm vi các số điện thoại di động của cơ quan kiểm tra.

b) Kiểm tra chứng từ điện tử theo hình thức chuyển đổi chứng từ điện tử sang chứng từ giấy:

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể in chứng từ điện tử do cơ quan, tổ chức, cá nhân đó khởi tạo, xử lý để lưu trữ, đối chiếu thông tin hoặc xuất trình cho cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra hoặc cung cấp cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có nhu cầu tra cứu, xác minh thông tin trong phạm vi quy định của pháp luật.

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể yêu cầu chủ quản hệ thống thông tin xác nhận việc thực hiện giao dịch điện tử dưới dạng giấy để xuất trình cho cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra hoặc cung cấp cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có nhu cầu tra cứu, xác minh thông tin trong phạm vi quy định của pháp luật.

c) Chứng từ giấy chuyển đổi từ chứng từ điện tử phải phản ánh toàn vẹn nội dung của chứng từ điện tử; có thông tin thể hiện chứng từ đã được xử lý trên hệ thống thông tin và tên của hệ thống thông tin hoặc chủ quản hệ thống thông tin;có họ tên, chữ ký của người thực hiện chuyển đổi và con dấu của cơ quan, tổ chức thực hiện việc chuyển đổi.

9. Hủy hiệu lực của chứng từ điện tử

a) Chứng từ điện tử bị hủy hiệu lực theo một trong các điều kiện sau:

- Chứng từ bị hủy theo quy định của pháp luật về quản lý chuyên ngành.

- Chứng từ bị hủy trên cơ sở đồng ý và xác nhận của các bên tham gia giao dịch. Xác nhận này được thể hiện bằng một trong các cách sau:

+ Văn bản có chữ ký của các bên tham gia giao dịch hoặc đại diện được ủy quyền của các bên tham gia giao dịch;

+ Thông điệp dữ liệu có nội dung đề nghị hủy chứng từ của một bên tham gia giao dịch và thông điệp dữ liệu chấp nhận hủy chứng từ của (các) bên còn lại. Các thông điệp dữ liệu này có thể dưới hình thức thư điện tử được gửi từ địa chỉ thư điện tử đã đăng ký của các bên tham gia giao dịch hoặc thông điệp dữ liệu được tạo trên cùng hệ thống thông tin khởi tạo hoặc lưu trữ chứng từ điện tử, được xác thực bằng một trong các biện pháp được chấp nhận áp dụng cho chứng từ điện tử (quy định tại Điều 5).

b) Chứng từ điện tử đã hủy hiệu lực phải được lưu trữ phục vụ việc tra cứu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

10. Tiêu hủy chứng từ điện tử

[Giữ nguyên theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị định 27/2007/NĐ-CP]

Chứng từ điện tử đã hết thời hạn lưu trữ theo quy định về quản lý chuyên ngành tương ứng, nếu không có quyết định khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được phép tiêu hủy. Việc tiêu hủy chứng từ điện tử không được làm ảnh hưởng đến tính toàn vẹn của các chứng từ điện tử chưa tiêu hủy và phải bảo đảm sự hoạt động bình thường của hệ thống thông tin.

11. Quy định đối với hệ thống thông tin

a) Hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính phải được đảm bảo chính xác về thời gian: phải sử dụng hoặc được đồng bộ thời gian với nguồn thời gian chuẩn ([sẽ bổ sung thông tin về các nguồn thời gian chuẩn tại mục này]). Khuyến khích sử dụng dịch vụ cấp dấu thời gian của tổ chức được cung cấp dịch vụ này theo quy định của pháp luật về chữ ký số và chứng thực chữ ký số [Nghị định 26/2007/NĐ-CP hoặc Nghị định thay thế Nghị định này] đối với các loại chứng từ mà thời gian khởi tạo hoặc xử lý chứng từ bị ràng buộc bởi các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành, có thể gây tranh chấp về lợi ích, pháp lý giữa các bên tham gia giao dịch.

b) Hệ thống thông tin phục vụ khởi tạo, xử lý chứng từ điện tử phải có tính năng chuyển đổi chứng từ điện tử sang chứng từ giấy để phục vụ các mục đích quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 8.

c) Hệ thống thông tin và kết nối giữa các hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử phải được bảo đảm an toàn theo quy định của pháp luật về an toàn thông tin mạng. Khuyến khích áp dụng các tiêu chuẩn về an toàn thông tin của Việt Nam và thế giới.

d) Việc kết nối trao đổi chứng từ điện tử giữa các hệ thống thông tin phải có biện pháp bảo đảm tính xác thực và toàn vẹn của chứng từ điện tử. Khuyến khích áp dụng chữ ký số cho mục đích bảo đảm tính xác thực và toàn vẹn của chứng từ điện tử.

đ) Kết nối từ cơ quan, tổ chức, cá nhân tới hệ thống thông tin để phục vụ việc khởi tạo, xử lý chứng từ điện tử nếu đi qua mạng Internet phải được mã hóa. Khuyến khích sử dụng chứng thư số SSL VPN an toàn [sẽ căn cứ quy định tại Nghị định thay thế Nghị định 26/2007/NĐ-CP] để mã hóa kênh kết nối này.

e) Chấp nhận việc sử dụng hệ thống thông tin để ký số tự động cho chứng từ điện tử bằng chữ ký số của tổ chức (chữ ký số của chủ quản của hệ thống thông tin).

12. Điều kiện tham gia giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính

Cơ quan, tổ chức, cá nhân khi tham gia giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính phải có thư điện tử để tiếp nhận thông báo, xác nhận trong quá trình giao dịch.

13. Sử dụng dịch vụ trung gian trong giao dịch điện tử

a) Cơ quan, tổ chức, cá nhân được lựa chọn cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ trung gian phù hợp với nhu cầu sử dụng của mình trong việc thực hiện giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính.

b) Cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ trung gian và cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ trung gian phải ký thỏa thuận hoặc hợp đồng quy định trách nhiệm, quyền hạn của mỗi bên (trong khuôn khổ pháp luật cho phép).

Chương III

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

14. Trách nhiệm của chủ quản hệ thống thông tin

a) Tuân thủ các quy định liên quan của Nghị định này.

b) Tổ chức hỗ trợ việc thực hiện giao dịch trên hệ thống thông tin thông qua một hoặc kết hợp hỗ trợ theo một số cách thức sau: trực tiếp, qua điện thoại, qua thư điện tử, trang thông tin điện tử.

c) Cung cấp thông tin dưới dạng điện tử về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính thuộc phạm vi hệ thống thông tin của chủ quản hệ thống thông tin cho các cơ quan quản lý có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra về tài chính; các cơ quan, tổ chức, cá nhân có nhu cầu tra cứu, xác minh thông tin trong phạm vi quy định của pháp luật.

d) Trực tiếp hoặc ủy quyền cho đơn vị thành viên, chi nhánh xác nhận chứng từ giấy được chuyển đổi từ chứng từ điện tử khi có yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia giao dịch trên hệ thống thông tin thuộc quản lý của chủ quản hệ thống thông tin.

đ) Giữ bí mật thông tin thuộc bí mật cá nhân, bí mật kinh doanh trên hệ thống thông tin thuộc quản lý của chủ quản hệ thống thông tin theo quy định của pháp luật.

15. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia giao dịch

a) Tuân thủ các quy định liên quan của Nghị định này.

b) Quản lý, giữ bí mật phương tiện, thông tin phục vụ việc ký số hoặc xác thực; thông báo ngay cho chủ quản hệ thống thông tin khi bị mất, lộ phương tiện, thông tin này.

16. Trách nhiệm của Bộ Tài chính

[Căn cứ nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ quy định tại Nghị định 123/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ]

a) Ban hành các quy định, hướng dẫn về kỹ thuật và nghiệp vụ về giao dịch điện tử trong các lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này;

b) Chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục quy định của pháp luật về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính.

c) Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện quy định của pháp luật về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính.

d) Giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính.

17. Trách nhiệm của Bộ Công thương, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra chứng từ tài chính:

a) Phối hợp với cơ quan tài chính trong việc triển khai giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính.

b) Sử dụng thông tin dưới dạng điện tử về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính do chủ quản hệ thống thông tin cung cấp phục vụ công tác kiểm tra, thanh tra về tài chính hoặc tra cứu, xác minh thông tin trong phạm vi quy định của pháp luật.

c) Không yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân xuất trình bằng chứng đã thực hiện giao dịch điện tử bằng hình thức giấy trong trường hợp đã được cung cấp phương tiện kiểm tra bằng phương thức điện tử.

18. Giải quyết tranh chấp

19. Xử lý vi phạm

20. Hiệu lực thi hành

 

Ghi chú: Phần chữ in nghiêng trong ngoặc vuông giải thích căn cứ, ý nghĩa của quy định.

 

Mục lục Văn bản

Chức năng chỉ dành cho thành viên Basic LawSoftPro